Anima – Mãi mãi thơ ngây, mãi mãi dại khờ

Anima là tên của festival phim hoạt hình quốc tế được tổ chức ở Bruxelles hằng năm. Sinh viên trường các trường nghệ thuật được khuyến khích đến xem với mức giá ưu đãi đặc biệt. Liên hoan phim diễn ra trong vòng mườingày liên tiếp với hơn ba mươi phim dài, một trăm ba mươi phim ngắn, các buổi gặp gỡ những nhà làm phim cùng nhiều hoạt động vệ tinh khác. Quảng trường Flagey nơi diễn ra Anima chỉ cách nhà tôi năm phút đi bộ. Mỗi tối về nhà sau khi kết thúc suất chiếu cuối cùng, vừa nghĩ về những khung tranh chuyển động tuyệt hảo, vừa nghe sương mù Bruxelles phả phất trên mặt, tôi thấy chân mình cứ lâng lâng bước thấp bước cao.

Bộ phim thắng giải khán giả bình chọn năm 2016 là Tout en haut du monde (Trên đỉnh thế giới), phim hợp tác giữa Pháp và Đan Mạch. Hôm đó tôi không mang theo bút, lại vội về nhà sớm nên đã bỏ qua dịp chấm điểm bỏ phiếu, tuy vậy trí nhớ vẫn còn lưu giữ rõ lắm cảm giác xúc động khi cuối buổi mọi người cùng vỗ tay trong một nhịp điệu thong dong nồng ấm rất thân tình. Trước lúc phim bắt đầu, bác đạo diễn lên nói đã ấp ủ kế hoạch dựng phim từ năm 2005. Cô MC bắt ngay lấy cơ hội hỏi liền trong khán phòng bạn nào sinh sau năm 2005 thì giơ tay lên nào. Chà, cái phim này còn lớn tuổi hơn mấy bạn đó. Tôi thì ngồi lún vô cái ghế nệm tặc lưỡi, tâm huyết những mười năm, hỏi sao không lay động lòng người cho được.

Được chọn để chiếu bế mạc là câu chuyện vinh danh một thi sĩ. Đúng lúc tôi đang làm bài tập minh họa thơ ở trường nên dạo này đâm ra mê mẩn mấy ông nhà thơ. Ohlala, một bông hồng cho các nhà thơ! Phim làm từ quyển Nhà tiên tri của tác giả người Li Băng Kahlil Gibran, xuất bản lần đầu năm 1923. Nhân vật chính là Mustafa – nhà thơ kiêm họa sĩ bất đồng chính kiến bị nhà cầm quyền đảo Orphalese giam lỏng suốt bảy năm và cuối cùng bị xử bắn ngay trên bến cảng có con tàu đang đợi để mang ông trở về quê hương trong tự do. Chuyện phim chỉ diễn ra trong vòng hai ngày cuối đời của Mustafa. Trên con đường từ bị giải đi từ nhà đến cảng, ông đã kịp đọc mười bài thơ làm dân tình ngất ngây. Cả tôi cũng ngây ngất. Mỗi bài thơ được minh họa theo một phong cách hoàn toàn khác nhau càng làm tôi thích chí. Tiếc rằng ông Mustafa này làm thơ trữ tình triết lí, còn tôi thì đang minh họa một bài mang hơi hướng siêu thực quái dị nên không tranh thủ gì được.

Ở mảng phim ngắn, phải dốc sức theo dõi hơn chứ không được ung dung thưởng thức. Màn ảnh chạy cái vèo chớp nhoáng, mỗi loạt liền tù tì mười mấy phim. Tôi phải căng não lên ghi nhớ để còn học hỏi cách tìm đề tài, cách dựng và xử lí câu chuyện theo kiểu súc tích ngắn gọn. Những bài tập ở trường đều là công việc của một cá nhân đơn lẻ, thực hiện trong thời gian tương đối hạn hẹp, nếu cứ tư duy kiếm tìm một thiên truyện lớp lang e rằng không hoàn thành kịp deadline.

Tối hôm trước ngày bế mạc công bố giải thưởng sẽ có buổi chiếu một loạt bốn mươi phim ngắn, kéo dài từ chín giờ tối đến tận ba giờ sáng, gọi là La nuit animée – Đêm hoạt hình. Các nhân viên của rạp trong đêm này sẽ mặc pyjama họa tiết nhẹ nhàng và đeo theo bên mình các con thú bông để tạo không khí thoải mái thân mật như ở nhà. Ban tổ chức còn phát động màn gấp máy bay giấy thả bay là đà trong khán phòng rộng lớn cao bốn tầng ghế và cố tình cố ý chọn những phim có tính hài hước cho khán giả đỡ buồn ngủ.

Một điều đặc biệt nữa của Anima là rất hay diễn ra trùng với dịp Valentine. Thể nào vào ngày 14/2 cũng có một buổi dành riêng cho các phim ngắn nói về tình yêu. Mà chủ yếu là tình yêu eros nên chương trình đó không dành cho trẻ em dưới mười sáu tuổi.

Thực ra thì không phải chỉ có buổi chiếu Valentine mới có giới hạn độ tuổi. Phim hoạt hình từ lâu đã không còn là lãnh địa của riêng trẻ em. Gần một phần ba chương trình được dán nhãn 16+. Các nhà làm phim dùng đồ họa động để kể những câu chuyện đủ mọi sắc thái như muôn mặt của cuộc sống, có ngây thơ, có triết lí, có mất mát lẫn bạo lực, đau thương.

Bruxelles 2016

20160206-1

20160207-2
Turning Travellers – tác phẩm sắp đặt của Luc Degryse tại Brussels Animation Film Festival 2016

20160213-5

20160213-6
Are you ready for La Nuit Animée ?

20160213-4

Advertisements

Trong lòng tháp nhà thờ Köln

Nhà thờ chính tòa Köln có hai ngọn tháp chuông cao 157m. Du khách có thể trèo lên 509 bậc đá xoắn ốc trong lòng tháp nam để ngắm nhìn phong cảnh sông Rhine từ độ cao 98m. Không rõ tôi đã đến bậc thứ mấy, thử lướt mắt qua ô thông gió, đã thấy mình ở trên hẳn tất cả các mái nhà xung quanh. Góc nhìn và khung cảnh khá tương đồng với các bức minh họa thường gặp của cuốn Nhà thờ Đức bà Paris. Loạt tranh vẽ Quasimodo gục ngã trên cao, xung quanh là những bức tượng ác thú đầu sừng có cánh, chi tiết trang trí đầu máng xối phổ biến của lối kiến trúc gothic, hậu cảnh là thành phố Paris rộng lớn diễm lệ bên dưới, tương phản với vẻ ma quái điêu tàn của các chủ thể chính.

Tôi cũng đang lọt thỏm trong sự đối lập đậm đặc tính gothic đó. Bên ngoài là bầu trời thoáng đãng, con đường phía trước nhà ga tấp nập khách du lịch, vô số thanh niên gái trai xinh đẹp tán gẫu trên những bậc thang rộng thênh tràn nắng. Còn ở chốn này, trong tháp chuông hun hút, cột không khí hầm mộ tỏa ra từ đất đá xù xì của một ngôi nhà thờ có nền móng từ thời trung cổ đang bao bọc tất cả.

Lòng tháp nhỏ hẹp như một ống khói, đường kính ngắn hơn sải tay một người cao ráo. Chiều rộng bậc thang chỉ vừa đủ dể hai dòng khách tham quan lên xuống ngược chiều đặt chân. Tôi đang ở hàng đi lên, nhưng sao không thấy mình đang đến gần bầu trời, mà ngược lại, cảm giác như đi vào địa ngục. Càng ngày vực thẳm dưới chân càng sâu thêm. Khung cảnh giống như trong các giấc mơ dữ từng trải qua, nơi mà nỗi sợ hãi được phóng chiếu thành những hình ảnh rất cụ thể: trượt chân khỏi các nấc thang trên bức tường dựng đứng hoặc bị mắc kẹt trong một nhà tắm nhỏ xíu không thể động cựa được. Ở đây hiện diện cùng lúc cả hai nỗi kinh hoàng đó, sự rơi ngã và không gian bó chật.

Vậy nên tôi đã không đủ dũng khí để leo lên đến tận cùng ngọn tháp. Không ai muốn sống một cơn ác mộng có thực. Tôi chọn dừng lại và quay xuống, ra khỏi tháp ngắm nhìn công trình kiến trúc gần tám trăm năm tuổi từ xa. Ngôi thánh đường đồ sộ như một tòa thành, lãng mạn mà hoang dại. Vẻ lộng lẫy dường như chỉ tồn tại trên những tấm ảnh đã qua bộ lọc và ống kính chuyên nghiệp hơn là dưới ánh sáng đời thực. Mặt tây có diện tích khổng lồ, đen đúa màu khói, bên trên tua tủa vô số những chóp nhọn cạnh răng cưa. Nhìn từ phía này, nhà thờ trông như một vương miện bằng sắt đặt trên mặt đất.

Một người bạn đã từng nói với tôi hồi bé anh rất sợ các tranh tượng của Thiên chúa giáo, chúng thường chảy máu, sầu não hoặc trông dữ tợn. Thầy giáo người Bỉ thì bảo rằng nếu một bức tranh hay một câu chuyện chỉ thuần mô tả những điều êm đềm, nó sẽ trượt đi mà không để lại bất cứ dấu ấn nào trong lòng người. Không rõ đó có phải là phương châm sáng tác đã tồn tại từ xa xưa của các nghệ sỹ phương Tây hay không. Tôi thích những yếu tố fantasy nhưng cũng e ngại những chi tiết rùng rợn của dòng tiểu thuyết gothic, tuy đến nhà thờ hàng tuần nhưng thỉnh thoảng cũng thấy hình ảnh chúa Jesus chịu nạn quả có hơi dễ sợ nếu đặt cạnh tượng phật Thích Ca tọa đài sen.

Cứ cho rằng đó là sự khác biệt về thị hiếu Đông – Tây. Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng, cho dù mình có thích hay không thì sự đau đớn và nỗi sợ hãi vẫn luôn luôn có ở đó, nơi cuộc sống trần gian này. Trong tôn giáo nào đi nữa, siêu thoát hay cứu rỗi luôn đi kèm với trừng phạt và hy sinh.

Trước khi lên tháp chuông, tôi đã mua vé vào thăm phòng châu báu của nhà thờ, thấy trong đó bao nhiêu là gậy, mũ, áo choàng của các giám mục, cùng vô số chén thánh, đồ trang trí tinh xảo … tất cả đều bằng vàng bạc, đá quý. Rất ấn tượng. Nhưng rồi đọng lại nhất trong tâm trí sau chuyến ghé thăm thành Köln vẫn là lòng tháp tù túng. Tôi nghĩ về cảnh ngộ của Quasimodo. Một kẻ giật chuông nếu phải trải qua phần lớn đời mình trong những ngọn tháp như thế này, thì có khác gì lúc nào cũng cận kề địa ngục đâu.

Bóng ma trong nhà hát ở Las Vegas

Cảm giác phù phiếm ở Venezia làm tôi nhớ chuyến đi Vegas hai năm trước đó. Hai thành phố đều là những thiên đường du lịch, nơi nhân loại đổ xô đến để tạm quên con người thường nhật với các bổn phận đủ loại phải mang vác quanh mình. Chốn lý tưởng để bỏ lại phiên bản đại diện chính thức của mình ở nhà, hoặc cất vào túi xách, có khi là giấu trong chiếc đồng hồ vàng, dưới vành mũ hay đằng sau một gọng kính màu mè…  Người ta nhìn thấy ở Venezia sự lãng mạn gợi mở về một vận may tình ái và trông đợi ở Las Vegas vận may của lòng tham. Một bên được xây trên mặt nước, một đằng mọc lên từ sa mạc. Tất cả đều bắt đầu từ ý chí kiêu ngạo điên rồ của con người. Cả hai đều là những bữa tiệc bất tận, là giấc mơ quyến rũ mà ai trong đời cũng ước mơ được một lần chìm đắm.

Nếu Venezia có một mạng lưới các kênh rạch đan khắp thành phố như những mạch máu thì nguồn sống của Vegas là một trận đồ các sòng bài thông nhau như tổ mối. Có thể di chuyển giữa các tòa nhà mà không cần ló mặt ra đường, chỉ cần đi xuyên qua tầng tầng lớp lớp những dãy máy đánh bạc. Giá thuê khách sạn không đắt, thậm chí miễn phí nếu là khách quen chơi bài. Căn phòng tôi ở có một mặt bằng kính, đối diện là bãi đậu xe tám tầng được che đậy bằng tấm panô khổ lớn in hình pháo hoa. Buổi sáng thức dậy kéo rèm ra, cảnh vật trước mắt là một tấm thiệp chào mừng. Welcome to Vegas!

Đường xá rộng thênh thang. Hai bên là đủ loại kiến trúc hỗn tạp, từ Âu đến Mỹ, từ cổ điển đến cách tân. Ban ngày, sự giả mạo trải rộng khắp thành phố.

Tôi tìm thấy một núi lửa ngụy tạo với các cơn chất động phun trào theo thời gian biểu, một tháp Eiffel mô hình và cả một Venezia sao phỏng. Tất nhiên là ở kích cỡ nhỏ hơn vật gốc. Những bản sao này là đồ trang trí lôi kéo sự chú ý của các khách sạn kiêm casino, trung tâm mua sắm kiêm sòng bài hoặc nhà hát có kinh doanh thêm chỗ đánh bạc. Quần thể Venezia giả có tên chính thức là Venetian, nghĩa là người Venezia, thuộc về Venezia. Đây là phức hợp của sòng bạc lớn nhất kết hợp với khách sạn lớn thứ nhì thế giới. Quảng trường Saint Marco và Grand Canal phiên bản nhái cũng dập dìu gondola gọi mời. Có điều, nước dưới kênh lớn tĩnh lặng trong veo, màu sắc xanh lơ một cách khó hiểu như thuốc sát trùng.

Khi đêm xuống, Vegas bừng tỉnh. Vẻ mênh mông của đường phố bị bóng tối che lấp. Bảng hiệu neon chớp nháy nồng nhiệt khắp nơi. Những anh chàng da đen chào mời tờ rơi trên các vỉa hè. Hãy đến với show của chúng tôi. Đủ mọi loại show, vào tất cả các ngày trong tuần; hòa nhạc của các nghệ sỹ tên tuổi; ca múa tạp kỹ cháy nổ hoành tráng với màn phụ họa tưng bừng của dàn vũ công ngực trần; thoát y nam hoặc nữ trong các không gian nhỏ hơn ấm cúng hơn; show thể thao cho những anh chàng mê hành động; nếu bạn có con trẻ, hãy đưa chúng đi xem ảo thuật hoặc xiếc và tất cả, bao gồm chính bạn, sẽ ghi nhớ những ký ức ma thuật đó cả đời …

Giữa muôn trùng lưới nhện các món tiêu khiển mà hệ thống giải trí của Vegas chăng ra, tôi đã nhắm sẵn một lựa chọn từ ban sáng: vở nhạc kịch The phantom of the opera trông thấy trên áp phích bên ngoài tòa nhà Venetian.

Trước đây tôi chưa từng đi xem kịch, dù là kịch nói hay kịch hát. Ở lần chạm ngõ đầu tiên, loại hình sân khấu cộp mác Broadway này đã không mang đến thất vọng. Phần đông khán giả đến nhà hát với lệ bộ khá trịnh trọng, đối lập hẳn với những chộn rộn bên ngoài. Rạp kín mít không còn chỗ trống.

Nhân vật Bóng ma – The phantom – được xây dựng theo mô típ thiên tài bị nguyền rủa. Sinh ra với một khuôn mặt dị dạng, tồn tại trong gánh xiếc như vật mua vui, trốn thoát, rồi sống ẩn dật bên dưới nhà hát opera như một con chuột. Sở hữu tài năng trác tuyệt về kiến trúc và âm nhạc nhưng tâm hồn nhiều tổn thương dần trở nên méo mó thành một bóng ma ghen tuông và cay đắng, cuối cùng nhận lãnh kết thúc bi thảm. Những ngón nghề thiết kế sân khấu được tận dụng tối đa trong phân cảnh Bóng ma đưa người tình vào sào huyệt trên con sông ngầm dưới lòng đất bằng gondola hay lúc chùm đèn khổng lồ trên mái vòm nhà hát đột ngột rơi thẳng xuống hàng ghế khán giả khiến mọi người một phen hú hồn. Âm nhạc, thơ ca, mỹ thuật và kỹ thuật đã kết hợp cùng nhau tạo ra một không gian chuyện kể tuyệt đẹp trong khán phòng.

Tôi biết mình không phải là người duy nhất bị buổi biểu diễn chinh phục. Khi tấm rèm đóng lại, một cô gái đã tiến lại gần sân khấu, đứng lặng hàng chục phút âu yếm ngắm nhìn dàn nhạc bên dưới, mặc dòng người qua lại ra về.

Năm đó ở Las Vegas, đồng nghiệp người Malaysia đi cùng thắng bạc được một trăm đô. Tôi mất một trăm lẻ mấy đồng cho tấm vé xem nhạc kịch. Nhưng cũng nghĩ rằng mình đã thắng.

 

IMG_0238
Vegas trip, 2012

Venezia của Casanova

Tôi nhớ mình đã từng áy náy thế nào vì quyết định cúp cua ba ngày để đi Ý. Lúc ấy năm học ở Bruxelles mới bắt đầu được một tuần, năm đầu tiên của tôi ở một đại học Pháp ngữ.

Sau đó thì nỗi lo âu bài vở đã rơi xuống nước, mất hút trong sóng biển Adriatic, khi chiếc waterbus dập dềnh tiến vào Venezia – một nồi lẩu năm tháng, trong đó khái niệm về thời đại trở nên nhạt nhòa vì các ảnh tượng cũ mới không ngừng trộn lẫn vào nhau. Loại quang cảnh có thể đẩy nhận thức tôi vào một miền miên man hư ảo, tương tự cảm giác mà âm nhạc của Enya mang lại.

Có nhiều thứ đặc biệt có và không có ở Venezia.

Dinh thự bằng cẩm thạch, đường phố tíu xíu, cầu điệu đàng, kênh đỏm dáng, gondola lả lướt, đồ thủy tinh lấp lánh, mặt nạ carnival diêm dúa huyền bí … là những thứ đã làm Venezia vang danh thế giới.

Không có xe hơi, tuyệt nhiên không. Không thấy những công chức hối hả tất bật, những học sinh sinh viên ôm cặp sách nhởn nhơ, những bà mẹ đẩy xe nôi cùng con sưởi nắng, những chợ rau củ thịt cá tươi … Rất nhiều khách du lịch nhưng rất ít các cư dân thật sự.

Không có bầu không khí của những sinh hoạt thường nhật.

Tất cả sự có mặt và vắng bóng đó làm nên đặc tính của một hội chợ, một bữa tiệc, một sân khấu hơn là một thành phố đang còn sống. Đến cả tấm pano quảng cáo cũng không thật, cô nàng trên đó trông như một nữ bá tước nhợt nhạt thời Venezia còn là một quốc gia cộng hòa độc lập chứ không phải một siêu mẫu sống ở thế kỷ hai mươi mốt. Giữa khung cảnh ấy, người ta có quyền mơ mình là một phần của vũ hội hóa trang bất tận, nơi cầm chắc hậu quả là để cho lòng mình đi lạc, tỷ như anh chàng trong bài hát Stupid mistake của Gareth Gates thời còn tóc vuốt múi chôm chôm.

Phim ảnh, clip nhạc lấy bối cảnh Venezia thì nhiều. Danh nhân xứ này phải nhắc đến trước tiên là Marco Polo – nhà thám hiểm đã được lấy tên đặt cho sân bay của thành phố. Nhưng một tính cách Venezia tiêu biểu trong lòng tôi thì nhất định không ai thích hợp hơn Casanova – tay sát gái hào hoa của điện ảnh lẫn truyền hình mà cũng là một tác giả có thật ở Venezia vào thế kỷ mười tám, thời kỳ cực thịnh của quần đảo này. Lúc đó Venezia được xem như thủ đô giải trí của châu Âu, là điểm đến vui vẻ của những quý ông trẻ tuổi, đặc biệt là đàn ông Anh Quốc. Sòng bài, carnival xa hoa và các cô gái giang hồ xinh đẹp là những thứ được cho phép phát triển mạnh mẽ để thu hút du lịch, dù rằng khi ấy chính quyền thành phố vẫn còn rất bảo thủ về chính trị và tôn giáo.

Bây giờ thì các cô gái đến Venezia cũng nhiều như các chàng trai. Venezia vẫn được coi là thành phố của sự lãng mạn, nhưng theo một nghĩa khác với thời đó. Thực tình tôi thấy cũng không khác lắm. Ngày nay, một phụ nữ cũng có thể đóng vai Casanova.

Đêm cuối cùng ở Venezia của tôi trôi qua trên đảo Lido, khu vực diễn ra liên hoan phim Venice hàng năm. Số tiền còn lại gần như cạn sạch cho một bữa tối gồm vang trắng, pizza nấm, cơm hải sản nấu phô mai và vẹm hấp rượu trong một nhà hàng ngoài trời. Không khí biển gần kề cùng những tàng cây lá kim cứng cáp duyên dáng đã lấn áp sự quấy nhiễu khó chịu của bọn muỗi ẩn nấp trong các chậu ôliu chờ đêm xuống mới chui ra săn người. Khung cảnh trở nên hoàn hảo khi có tiếng guitar mạnh mẽ quyến rũ cất lên bên vòm cổng uốn bằng những thân leo. “Chẳng có lý do nào đến với tôi. Và cơn mưa đang trút xuống. Không có lý do nào …” Bài ‘74 – ’75 của The Connels đây mà. Bản cover hay nhất tôi từng được nghe. Hoặc giả tất cả chỉ là hiệu ứng do mấy ly rượu trắng mang lại. May mà trong túi còn một đồng hai euro để thả vào chiếc nón của chàng ca sỹ. Vâng, chẳng có lý do nào. Vì bạn đang ở Venezia của Casanova.

 Nhân chuyến đi Venezia tháng 9 – 2014.

Nụ cười xì trum

Vài năm trước, nếu không bắt gặp bức tượng chú Xì Trum nhoẻn miệng cười trên một con đường nhỏ gần ga trung tâm Brussels chắc tôi vẫn nghĩ các nhân vật tí hon da xanh kia là sáng tạo của người Pháp. Nhưng rồi sống ở đây thêm một thời gian nữa mới thấy rằng, bộ truyện tranh này mang đậm tính cách Bỉ: hóm hỉnh, sống chan hòa ngay giữa những khác biệt và cực kỳ yêu mến những điều bé nhỏ.

Tên gọi Schtroumpf (phiên âm tiếng Việt là Xì Trum) có nguồn gốc từ sự đãng trí của của tác giả Peyo trong một bữa ăn với bạn bè. Chuyện kể rằng lúc ấy ông đột nhiên quên mất từ “muối” nên bí quá nói bừa “Chuyển giùm tôi lọ … lọ …  xì trum”. Người bạn đáp lại “Đây, xì trum của anh đây, dùng xong nhớ trả lại nhé”. Thế là cả buổi chiều hôm đó, hai người đã trò chuyện với nhau bằng ngôn ngữ mới vừa phát minh ra: tiếng Xì Trum. Chi tiết này sau đó đã được đưa vào xuyên suốt các tập truyện. Trong tiếng Xì Trum, từ này không mang nghĩa cố định mà đóng vai trò vạn năng, có thể dùng thay thế cho động từ, tính từ lẫn danh từ và được hiểu ý tùy theo từng ngữ cảnh.

Cũng xoay quanh đề tài ngôn ngữ, trong tập số 9 xuất bản năm 1973 Schtroumpf Vert et Vert Schtroumpf  (Xì Trum Xanh và Xanh Xì Trum), tác giả đã tiết lộ rằng ngôi làng Xì Trum được phân chia thành hai miền Nam – Bắc và các Xì Trum ở hai bên có quan điểm khác nhau về cách sử dụng thuật ngữ “xì trum”, đặc biệt là trong các từ ghép. Chẳng hạn, nên gọi một vật thể dùng để khui nút chai là « đồ mở nút trum »  hay « đồ làm xì trum cái nút ». Câu chuyện này được coi là một sự nhại lại về cuộc chiến ngôn ngữ giữa hai cộng đồng nói tiếng Pháp và Hà Lan ở Bỉ.

Bên cạnh tiếng Xì Trum, ngôi làng các Xì Trum sinh sống cũng là một điểm nhấn gây tò mò. Vị trí địa lý của làng rất khó xác định, đến nỗi không ai biết « Vùng đất vị nguyền rủa » ấy nằm ở đâu ngoài thông tin chắc chắn là thuộc châu Âu. Dựa vào xuất thân của tác giả, người hâm mộ hay đoán già đoán non rằng ngôi làng nhất định phải nằm trong một vùng cây cối rậm rạp, dân cư thưa thớt, giống như sở thích của người Bỉ – Luxembourg. Vậy nên, nhiều khả năng đó là tỉnh Ardèche ở miền nam nước Pháp. Mà có lẽ đúng thế thật, nếu giở trang đầu tiên trong tập 23, Les Schtroumpfs joueurs, sẽ bắt gặp một khung tranh có vẽ số nhà là « Aubenas 15 », giống như một địa chỉ ở Ardèche.

Một đặc điểm rất Bỉ nữa của bộ truyện là cách xây dựng hình tượng nhân vật và mối xung đột chính của cốt truyện. Với kích thước cơ thể chỉ cao bằng ba quả táo, các Xì Trum liên tục gặp nguy hiểm trong môi trường tự nhiên. Thêm vào đó, mặc dù khi mới nhìn qua, tất cả đều có vẻ ngoài giống hệt nhau nhưng mỗi Xì Trum là một cá thể độc đáo mang tính cách rất riêng. Những va chạm chí chóe bất tận trong ngôi làng cũng do đó mà ra.

Tuy nhiên, sự đe dọa lớn nhất với cộng đồng Xì Trum lại bắt nguồn từ mối quan hệ của Xì Trum với con người mà cụ thể ở đây chính là phù thủy Gargamel tượng trưng cho mặt tối của nhân loại. Dù vậy, các Xì Trum đã quyết định bắt chước xã hội loài người ở sự đoàn kết tập thể, vượt qua những khác biệt cá nhân để mang lại an toàn và cân bằng cho cuộc sống của mình. Chính trong sự yếu đuối, bé nhỏ mà làng Xì Trum tìm được sức mạnh để … tiếp tục lẩn trốn. Với Xì Trum, độc giả tìm thấy một nguồn năng lượng tích cực để vui sống những điều giản dị chứ không phải để chiến đấu đánh nhau bằng bất cứ giá nào.

Sẽ là thiếu sót khi nói về sự thành công rực rỡ và sức sống bền bỉ suốt sáu thập kỷ của Xì Trum mà không nhắc đến vai trò nuôi dưỡng và nâng đỡ của cái nôi truyện tranh Bỉ. Điều này hoàn toàn không phải tình cờ. Người ta nói rằng giữa nước Bỉ và truyện tranh đã có mối tình lãng mạn kéo dài hơn một trăm năm.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, các tác giả  vùng Wallonia – Brussels đã tập trung đầu tư sáng tác truyện tranh thay vì các thể loại văn học cổ điển, vốn được cho là khó lòng cạnh tranh với nền xuất bản cùng ngôn ngữ của người láng giềng Pháp hùng mạnh. Tiếp đó, truyền thống biên tập cởi mở của Bỉ kết hợp với một sự dễ tính đáng yêu – không giống như sự kiểm duyệt của Pháp – đã giúp ngành nghệ thuật thứ chín này phát triển mạnh mẽ và không ngừng mở rộng. Hiện tại, những nhà xuất bản lớn nhất ở Bỉ không ai khác hơn là các đơn vị chuyên làm truyện tranh được sinh ra vào buổi bình minh của cuộc hôn nhân này.

Dĩ nhiên với tần suất ra sách mỗi năm một tập như hiện nay thì Xì Trum không còn chiếm thị phần đáng kể trong nền công nghiệp truyện tranh bao la bát ngát đầy ắp những câu chuyện và phong cách diễn họa mới mẻ của Bỉ. Tuy nhiên, cũng tương tự các nhân vật đã đi vào lịch sử như Tintin, Asterix hay Spirou, Xì Trum là biểu tượng mang lại cho nước Bỉ một nguồn lợi đáng kể qua việc thương mại hóa các sản phẩm ăn theo như trò chơi điện tử, phim hoạt hình, thú nhồi bông, mô hình PVC, đồ chơi trẻ em, vật lưu niệm, bảo tàng, công viên giải trí …

Và đó là cách mà ngày nay nụ cười Xì Trum tiếp tục lan tỏa đi khắp thế giới.

Tượng Xì Trum ở Brussels 2

Alice ở xứ truyện tranh

Nhớ lần đầu tiên bước vào hiệu sách Filigranes trên con đường mang tên Đại lộ Nghệ thuật – Avenue des Arts, tôi đã không khỏi choáng ngợp trước sự phong phú đa dạng của các ấn phẩm bìa cứng khổ lớn, đầy ắp các hình ảnh xinh đẹp trau chuốt tỉ mỉ như một tác phẩm nghệ thuật thực thụ. Lúc ấy mới hiểu vì sao trong tiếng Pháp người ta dùng từ « album » để chỉ những cuốn truyện tranh. Những lần sau này, khi ghé vào một thư viện công cộng bất kỳ hoặc các nhà sách tình cờ lướt qua trên phố, tôi vẫn luôn bắt gặp một không gian trân trọng và thái độ nâng niu dành cho truyện tranh như thế.

Nhiều năm qua, với niềm tự hào không che giấu, người Bỉ đã biến Bruxelles thành thủ phủ của bộ môn nghệ thuật thứ chín. Bằng những bức tường vẽ các hình ảnh truyện tranh tươi vui rải rác khắp thành phố. Bằng các tấm áp phích quảng cáo với nét bút hoạt họa đặc trưng. Bằng hàng loạt bảo tàng, trung tâm triễn lãm và cửa hàng dành riêng cho truyện tranh luôn tấp nập người lui tới. Bằng những lớp dạy vẽ kể chuyện dành cho mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người già. Bằng hàng trăm phong cách diễn họa và thể loại kịch bản truyện tranh khác nhau, đáp ứng mọi tâm tư sở thích của tất cả các tầng lớp độc giả mà bao nhiêu thế hệ họa sỹ và đội ngũ biên tập đã dày công xây đắp.

Hai tháng sau, tôi lấy tàu đến festival truyện tranh trong một tâm trạng náo nức tò mò. Đây là sự kiện được tổ chức tại Bruxelles hằng năm, kéo dài ba ngày, từ thứ sáu đến chủ nhật tuần đầu tiên của tháng chín.

Vừa ra khỏi ga trung tâm, mắt tôi đụng ngay … hàng trăm cái lưng của những người đang tập trung trên vỉa hè chờ đón đoàn diễu hành bong bóng. Tiếng kèn trống rộn rã đến trước, theo sau là từng đơn vị tuần hành trong trang phục đồng bộ chỉn chu đẹp mắt, các cô gái vận áo khoác nhung múa cờ xanh, các chàng trai mang bốt da đen tung cờ đỏ, đội cận vệ hoàng gia đội mũ cao nghễu nghện, đoàn ngự lâm quân mang liễu kiếm oai vệ, ban kèn đồng đường bệ nghiêm trang, các vũ công phục sức tua rua lông vũ rực rỡ … Lơ lửng bên trên tất cả, là tâm điểm của lễ hội : những chiếc bóng bay khổng lồ mang hình dáng các nhân vật truyện tranh.

Các người hùng tuổi thơ của tôi lần lượt lướt qua bầu trời, Superman, Tintin, Spirou, Astérix. Còn có các chú Xì Trum, gã mèo béo Le Chat, con sâu bướm đói bụng của Eric Carle, biểu tượng Atomium, cậu bé Manneken Pis và nhiều nhân vật mà tôi đành chịu thôi, không biết hết được. Tất cả cùng nhau rồng rắn trôi lững lờ qua các góc phố tựa một bản slow. Mặt đất xung quanh tôi thì rộn ràng nhộn nhịp nhưng các người bạn bong bóng trên nền mây bềnh bồng lại mang nét gì đó lãng đãng thờ ơ. Khi ngước nhìn lên trời tôi chợt có cảm giác mọi người vừa bị thu nhỏ lại và đây chính là thế giới của những nhân vật truyện tranh khổng lồ, chứ không phải của chúng ta.

Tôi đi theo đoàn bóng bay một đoạn dài, đến công viên Bruxelles thì thấy nơi này đã được khoác lên một diện mạo mới. Vô số các lều bạt màu trắng lớn nhỏ đã mọc lên khắp nơi trên bãi cỏ khuôn viên như một ngôi làng nấm. Bên trong những căn lớn là các hoạt động triễn lãm, hội thảo chuyên đề liên quan đến truyện tranh, giao lưu và ký tặng của các tác giả nổi tiếng, giới thiệu các nhà xuất bản và trường đào tạo nghệ thuật, mua bán và trao đổi truyện tranh mới cũ… Các gian hàng trò chơi hội chợ được đặt ở những túp lều nhỏ hơn. Nhiều tấm phông trắng xuất hiện để mọi người cùng nhau thỏa sức múa cọ. Dưới tán cây, các em bé ngồi hý hoáy vẽ vời hoặc háo hức chờ tới lượt mình được hóa trang thành chồn, cáo, mèo, thỏ với các màu lông sặc sỡ ánh nhũ.

Nhìn các tiểu yêu mặt mũi rằn rện tinh nghịch lần lượt ra đời dưới bàn tay phù phép khéo léo của các nghệ sỹ trang điểm làm tóc, tôi cũng ước phải chi mình bé lại để được ngồi vào chiếc ghế hóa trang biến hình kia mà không mắc cỡ trước mọi người. Rồi bỗng nhiên nhớ mình ngày nhỏ, khi đứng trong sân nhà ngắm những con diều tít xa chấp chới trong ánh chiều tà, tôi đã từng nghĩ chúng là những sinh vật có lông vũ dát vàng lấp lánh.

Vào cuối ngày, khi lễ hội sắp tàn, trong khoảnh khắc ngước nhìn bóng dáng chú sâu xanh len lỏi giữa phố xá để trở về tổ, tự nhiên tôi thấy nhen lên một ý nghĩ đồng cảm với nhân vật Alice của Lewis Carroll, phải chăng mình vừa đi lạc vào xứ sở diệu kỳ ?

Các vũ công

Nơi bốn mùa đi qua

Mỗi khi nghĩ về thời trung học, tôi không thể tránh khỏi ý nghĩ mãn nguyện pha lẫn chút tự hào: mình đã có tất cả trong khoảng thời gian ấy!

Trong ký ức của tôi, trường cấp ba Lương Thế Vinh giống như một ngôi nhà lớn xinh đẹp, nơi bốn mùa tuần hành qua hành lang trắng sáng trải dài, len lỏi giữa các hàng cây rồi gói gém những kỷ niệm của tôi và đám bạn trong những vạt nắng mưa của nó.

Thời tôi còn học, trường nằm trên một khu đất cao, riêng biệt với khu dân cư. Một không gian đủ tách biệt và yên tĩnh cho những suy tư tuổi chưa kịp lớn.

Mùa thu tháng chín, sân trường sặc sỡ bóng bay ngày khai giảng. Thường thì buổi lễ sẽ kết thúc khi nắng đã lên chói chang và hình ảnh những chùm bong bóng chỉ còn là cái chấm bé xíu trên nền trời mênh mông thăm thẳm. Tôi đã bắt đầu năm học lớp mười của mình trong khung cảnh đó, với một tâm trạng háo hức xen lẫn chút âu lo, về bài vở và các kỳ thi quanh năm, về tương lai chưa hình dung được của chính mình. Nhưng rồi, khi năm học thật sự đi qua dòng chảy thời gian, những băn khoăn ấy cũng dần trôi theo đâu mất. Vì tôi nhận ra mình không hề đơn độc dẫu từ nay phải sống xa nhà. Và vì trường tôi đẹp quá !

Mùa đông, thích nhất là lên trường vào buổi sáng sớm se lạnh. Tôi khám phá ra điều này vào một ngày tháng mười một, bởi sự cố đi học sớm quá mức. Gần tới trường, sau khi phát hiện mình đã xem nhầm đồng hồ, tôi tha thẩn đạp xe chậm lại, lơ đãng nhìn những hàng quán cửa đóng im lìm hai bên đường. Rồi bỗng dưng, khi mắt ngó lại về phía trước, tôi chợt ngỡ ngàng. Là ngôi trường của tôi, thấp thoáng sau làn sương mù đầu dốc, bồng bềnh như đang ở trong một đám mây …

Tôi rón rén vào trường. Thấy mình như đang ở giữa một giấc mơ lạ lùng. Tán cây bàng ve vẩy những chiếc lá đỏ, nổi bật giữa bầu trời tháng mười một trắng sáng dịu dàng. Những trái điệp đen treo mình lơ lửng giữa vòm lá tĩnh lặng tựa như những nốt nhạc đang nhảy múa. Hành lang trắng hiền quen thuộc bỗng trở nên chênh vênh như một dải lụa vắt vẻo băng qua sân trường. Chưa bao giờ tôi bắt gặp trường học quen thuộc của mình trong dáng vẻ vừa huyền ảo vừa thanh tịnh ấy. Hình ảnh của ngôi trường buổi sớm mai mùa đông đó cứ ám ảnh tôi mãi suốt những tuần sau đó.

Rồi đến mùa xuân. Trước kỳ nghỉ về quê ăn tết sẽ có một dịp cắm trại mà khó có LTVer nào quên được. Chúng tôi dựng lều quanh sân bóng đá rồi hì hụi trang trí bằng đủ thứ hoa lá mai đào, câu đối lẫn cây nêu. Buổi tổi thì ngồi bên nhau quanh đống lửa, ăn uống, nhảy múa, chọc ghẹo, tấu hài. Một ai đó gom cành khuynh diệp khô bỏ vào lửa. Nhựa cây bị đốt cháy tỏa ra mùi tinh dầu dễ chịu, lan đi cùng ánh lửa bập bùng, hòa lẫn vào bầu không khí trại đêm đầy phấn khích. Chúng tôi cùng hét thật to tên của các thành viên trong lớp rồi sau đó lần lượt từng đứa nhảy qua đống lửa sắp tàn mà chẳng cần một lý do nào. Sau này, khi xem lại những tấm hình chụp hôm ấy, tụi lớp vẫn còn hỏi nhau: tại sao lúc đó bọn mình lại làm cái trò này vậy? Chẳng đứa nào biết hết. Cứ nhảy là nhảy thế thôi.

Cuối cùng, mùa hạ ập đến với bao nỗi niềm. Đây cũng là khoảng thời gian tôi thích nhất trong năm. Thời khóa biểu sau kỳ thi bỗng trở nên nhẹ bẫng. Những buổi học kết thúc sớm đó, tôi không vội về ký túc xá, thay vào đấy là khoảng thời gian lân la ở thư viện trường – khối kiến trúc be bé khiêm tốn nằm nép riêng trong một khoảnh sân nhỏ, bốn mùa xôn xao bởi cây lá ngoài cửa sổ. Tôi thích nơi này cực kỳ. Những ngày chớm hè, cây bò cạp nước trước hành lang trổ hoa vàng rực rỡ, cảnh tượng xinh đẹp như trong chuyện thần tiên. Sắc vàng dịu mát nhưng rất đỗi huy hoàng ấy thắp sáng một góc trường, níu kéo cả những bước chân hiếu động nhất. Tôi mê lật sách cạnh những ô cửa thư viện. Lúc thì ngồi ở cửa sổ mặt tiền, nơi có cây hoa vàng và một hòn non bộ be bé, xung quanh lượn lờ cá chép. Lúc thì ngồi ở cửa sổ mở ra khu sân thể thao phía sau, nơi các bạn của tôi đang chơi bóng, thỉnh thoảng lại chạy tới, thò đầu qua chấn song để mang đến cho tôi một tin tức buồn cười vẩn vơ nào đó.

Khoảng thời gian sắp vào hè cũng là lúc hay có những cơn mưa ngắn, bất chợt đến và cũng rất nhanh đi. Sau mưa, mọi thứ đều trong trẻo, xanh mướt tinh khôi. Mùi đất ẩm và lá cây ngai ngái hướng ánh nhìn của chúng tôi về phía dưới gốc cây hoa vàng ; trên bãi cỏ còn đẫm nước là những vạt chua me đất xinh xắn trông rất giống cỏ ba lá. Bạn nói rằng nếu đưa chúng lên mũi ngửi, sẽ có mùi nước chanh, còn nếu há miệng cắn thử, sẽ thấy vị canh chua. Nhưng mà, khi chơi dưới gốc cây bò cạp nước thì phải để ý coi chừng dẫm phải mấy con sâu. Cái cây này rất thích nuôi sâu. Sau mỗi cơn mưa trời mát mẻ nên bọn chúng sẽ chui ra đi dạo. Lổm ngổm lăng xăng. Béo ú và nhiều vô kể !

Thế đó, những ngày cuối trung học của tôi đã đi qua dưới mái ngói thư viện có cây hoa vàng, có hương vị của lá me đất và có cả những con sâu.

Trong suốt nhiều năm sau, kể từ khi ra trường, tôi đã gặp thêm bao nhiêu cây bò cạp nước trổ hoa vàng ở khắp các nơi, nhưng không có cái cây nào tôi thấy đẹp mỹ miều được như cái cây ở Lương Thế Vinh năm ấy. Cũng không có hành lang, sân bóng hay buổi lửa trại nào ghi dấu ấn được như ở những năm tháng ấy. Trường tôi bây giờ đã được thay thế bằng một kiến trúc hoàn toàn mới. Sẽ không bao giờ tôi có thể thấy lại ngôi nhà bốn mùa hoa lá thời đó nữa. Dù vậy, tôi luôn có cảm tưởng rằng chẳng có thời gian nào có thể làm mờ hình ảnh của trường trong ký ức của mình được. Những kỷ niệm luôn tồn tại trong tâm trí tôi như từng chiếc gương nhỏ. Chúng sẽ mãi tươi sáng như đôi mắt của các bạn tôi năm nào, để mỗi khi soi vào đó, tôi lại được thấy mình thuở ấu thơ.

Bruxelles, tháng 9, 2014.

4

150624_084918__mg_3275
Thư mời của buổi lễ. Tôi là người đã vẽ bức tranh in trên đó. Lần ấy tôi không về dự được. Một em khóa dưới chưa từng gặp mặt đã chụp những tấm hình này rồi gửi cho tôi. Tình đồng môn thật đẹp. Duyên học chung trường, với tôi, cũng là duyên đẹp lạ lùng.
150624_085739__mg_3293
Ảnh chụp hành lang trường (kiến trúc cũ, thời tôi còn học) và bài viết này trên Kỷ yếu 20 năm.

 

Ba mùa Tết Việt

Nghe bạn nói giao thừa năm nay sẽ tháp tùng mẹ với mấy dì đi viếng bảy cảnh chùa, tôi tưởng tượng giữa sân đình đêm ba mươi tấp nập, có chàng trai má lúm đồng tiền, tay xách nách mang lỉnh kỉnh đồ lễ, lăng xăng đón rước, lật bật như bông vụ xoay quanh các cô các thím. Hình ảnh ngộ nghĩnh ấy làm tâm trí tôi vui vui một thoáng nhưng chỉ chốc lát chợt nhớ ra tại nơi mình sống hiện giờ, « chùa » là một căn hộ nép mình trong dãy nhà mặt phố, giống như chỗ ở của bao gia đình bình thường khác, tuyệt nhiên không có rường cột mái vòm sân vườn chi cả. Nếu bạn biết được liệu có thấy hụt hẫng?

Ba năm nay tôi chưa về nhà, bạn hỏi có nhớ tết chăng cũng không biết trả lời sao. Cả nơi tôi mới đặt chân đến hay đã rời đi đều sâu rộng đầy bí ẩn chẳng thể nắm bắt hết. Các nỗi niềm trông đợi hay nhung nhớ đôi khi rất mơ hồ khi mà mỗi ngày lại phát hiện ra vài định nghĩa mới về những điều tưởng như đã thân thuộc lắm.

Năm đầu tiên ở Bỉ tôi chẳng thấy tết đâu. Những ngày cuối năm âm lịch cũng ráng để ý phố xá và các hàng quán Á Châu xem có gì thay đổi không để rồi sau đó nhận ra cả tháng chạp lẫn tháng giêng đã trôi đi không vết tích, hệt như những cơn gió luồn qua đám cành khô mùa đông. Mãi đến cuối tháng ba dương lịch, bắt gặp cảnh tượng rừng đào hồng phai nhấn chìm đại học Nghệ thuật quốc gia La Cambre trong muôn vạn cánh hoa lấm tấm, lòng mới bâng khuâng cảm giác lạ quen lẫn lộn. Cũng thời điểm ấy, thủy tiên, mộc lan, hoa lê, hoa táo … nở tràn khắp nơi. Nước Bỉ tổ chức lễ hội hóa trang truyền thống Carnaval de Binche hoàng tráng nhất năm, trường học nghỉ xuân hai tuần, tôi có thời gian tha thẩn dạo phố, cảm nhận rõ rệt quanh mình là không khí tươi mới hân hoan, cả trong trời đất lẫn con người. Đẹp ngỡ ngàng đắm say. Nhưng đó là mùa xuân của các bạn châu Âu. Không phải là mùa xuân trong bài hát “Xuân đã về, xuân vẫn mơ màng” mà ký ức tôi lưu giữ.

hoa-dao-o-truong-la-cambre
Hoa đào ở trường La Cambre

Năm tiếp theo, tôi tìm đến chương trình đón tết do Tổng hội người Việt ở Bỉ tổ chức, thấy mình như vừa bước vào một thế giới bí mật giữa lòng thành phố Bruxelles. Đối lập với khung cảnh cuối đông yên ắng trầm mặc bên kia cánh cửa, không gian ở đây như chiếc hộp đàn len chặt thanh âm tiếng Việt rộn rã. Đủ mọi ngữ điệu quen và lạ, từ giọng nói đặc trưng của các vùng miền trong nước đến những cấu trúc câu cùng cách phát âm ảnh hưởng bởi tiếng Pháp, tiếng Hà Lan mà tôi chưa từng nghe. Hội trường thấp thoáng các tà áo dài màu sắc vui tươi nhưng không có lá hoa mai đào lộc biếc. Và đoàn múa lân thì gồm toàn các bác Tây. Điều mang lại cảm giác “xuân quê hương” nhất có lẽ là các ca sỹ mới bay từ Sài Gòn sang.

Ba tuần sau hôm đó, có bạn Bỉ hỏi tôi “Ngày mai là tết, đúng không M.?” Phải mất một lúc ngớ người ra tôi mới hiểu được tình hình, dù tiếng“tết” cậu bạn phát âm nghe rất tròn vành rõ chữ. Thì ra bên cạnh chương trình tết của Tổng hội, các đoàn thể người Việt khác cũng tổ chức sự kiện tương tự, không kém phần quy mô xôm tụ. Ngày nào là tết tùy thuộc vào hợp đồng thuê địa điểm mình sắp xếp được. Tết sẽ luôn rơi vào một dịp cuối tuần, kéo dài khoảng sáu tiếng đồng hồ từ chiều đến tối, và chúng ta có thể trải qua nhiều tết cho một năm mới.

Xuân Bính Thân 2016, tôi nhận việc trang trí phông nền cho buổi tất niên của Hội sinh viên Việt Nam tại Leuven. Nhờ vậy mà tết bỗng dưng dài ra, không còn chớp mắt đã qua như năm trước nữa. Suốt một tuần, cứ đi học về là tôi lại lụi cụi lôi hai cuộn giấy màu đỏ rượu chát và hồng xác pháo ra đo đo cắt cắt. Mỗi tối ngồi giữa đống giấy màu ngổn ngang mà cứ liên tưởng tới cảnh mẹ ở nhà đang làm củ kiệu dưa món, mâm trên mẹt dưới lỉnh kỉnh xung quanh. Cái tết thứ ba của tôi ở Bỉ được đánh dấu bằng sàn nhà rắc đầy những vụn giấy đỏ li ti và bằng trang facebook nhóm của sinh viên Leuven tràn ngập những dòng trạng thái, bình luận chuyện bàn bạc chuẩn bị Tết xen lẫn sắp xếp chuyện bài vở mùa thi.

Tết do sinh viên tổ chức nên chẳng có ca sỹ khách mời từ Việt Nam, chỉ có tiếng hát của cô bạn răng khểnh xinh xinh, có xổ số may mắn trúng thưởng được bánh chưng (chứ không được vé máy bay như tết của Tổng hội), không có tiết mục múa lân nhưng có … mấy con khỉ do tự tay tôi cắt dán. Nhìn những cô cậu bé con của các anh chị nghiên cứu sinh đang háo hức nô đùa, tôi không khỏi thầm hỏi trong các em bé vốn chưa từng biết đến quê hương bố mẹ này, có em nào khi lớn lên sẽ nhớ về tết Việt qua hình ảnh con giáp giấy đỏ của mình chăng?

Bạn biết không, tôi ở đây cũng có tết, nhưng tết không đến từ cuốn lịch âm dương, không đến từ thời khắc giao mùa của trời đất, cũng không đến từ hương khói nơi đền chùa linh thiêng. Tết diễn ra lúc nào, ở đâu và như thế nào, tất cả đều do mình làm nên.

tet-cua-hoi-sinh-vien-vn-tai-leuven

Bruxelles 2017

Hãy tới Mons gặp người nghệ sĩ

Giữa tháng mười hai năm 2015, tôi đến Mons trên chiếc xe ca hai tầng nhà trường thuê cho sinh viên đi xem một triển lãm diễn ra ở đó. Chuyến đi đúng vào dịp tác phẩm sắp đặt của Arne Quinze đang phủ bóng che lấp gần hết bầu trời phía trên con đường dẫn vào BAM(*). Tôi thấy mình như đi vào một cái tổ mối khổng lồ và không khí giáng sinh thì nhảy nhót rộn rịp xung quanh qua những cái đầu ngó nghiêng cùng cử điệu bấm máy chụp ảnh của khách bộ hành. Trời hôm ấy trong trẻo, lạnh dịu ngọt và đáng yêu. Cái tổ tua tủa những thanh gỗ vàng đỏ của Arne Quinze làm lòng tôi thêm phấn chấn.

Đến BAM, tôi gửi áo khoác và túi xách rồi thơ thẩn vào trong. Người đông, chẳng mấy chốc không còn trông thấy đồng môn cùng trường nào đang ở gần nữa. Tôi loanh quanh một lúc thì lạc sang một khu vực khác. Khu này vắng hẳn bóng dáng các bức tranh màu sắc, gần lối vào có nhiều lá kim loại dát mỏng hình chữ nhật mô phỏng theo những tờ giấy bố trí chấp chới trên không. Tôi liên tưởng tới một bầy dơi trắng đang rời tổ. Chính giữa gian phòng là một khung sắt lớn, hình hộp, cũ kỷ rỉ sét, trông giống như một cái lồng bị đã bẻ đi hết những chấn song. Bên trong khung có một chiếc giường đơn, một cái bàn con và một bồn rửa mặt. Thì ra đó là một cabin dành cho tù nhân ở Mons hồi thế kỷ mười chín. Tôi rảo bước quanh căn phòng rộng lớn, đọc chầm chậm những dòng chữ trên bức tường trắng, lướt qua một vài dòng thơ trích dẫn rồi bỗng dưng thấy sống mũi mình cay lên và những hạt nước bắt đầu dâng lên từ mi mắt dưới. Lạ lùng chưa.

Tuyến lệ của tôi vẫn thường bị kích thích bởi những giai điệu đem đến ý nghĩ rằng chúng được gửi xuống từ thiên đường. Chỉ có âm nhạc mới làm được điều đó thôi. Dẫu chọn lựa học vẽ và hay viết lách, tôi tuyệt nhiên chưa bao giờ khóc khi xem tranh hoặc đọc sách. Khóc trong một triển lãm như thế này lại càng không. Quả là một ngạc-nhiên-tình-cờ. Tình cờ vì mục đích đến BAM của trường tôi không phải là để tìm hiểu về một nhà thơ. Ngạc nhiên vì tôi không ngờ mình có thể rơi nước mắt bởi những điều như vậy.

Những gì tôi tiếp nhận được trong bảo tàng hôm đó như thế này: Paul Verlaine là một thiên tài thơ ca  sống cuộc đời hỗn độn khủng khiếp trong nghiện ngập, bạo lực và các thú vui trác táng. Những năm đầu đời, ông có một người yêu thanh mai trúc mã, một cô vợ trẻ và hôn nhân êm đềm như bao người khác. Cuối đời, ông có hàng tá cô nhân tình trong sự sa ngã vô độ. Năm 27 tuổi, Verlaine gặp một thiếu niên đồng giới kém ông mười một tuổi – người đã đem đến cho ông một tình yêu bão táp ám ảnh suốt đời. Cuộc tình kéo dài gần hai năm, kết thúc khi Verlaine bắn vào tay người tình bằng súng lục trong cơn cãi vã ghen tuông. Ông bị nhốt tù ở Mons, trong căn buồng mang số 252.

Tôi cho rằng các nghệ sĩ là người có tâm hồn thực sự rất mong manh, mong manh đến nỗi chỉ để hít thở được với cuộc đời này thôi đối với họ đã là một cuộc chiến sinh tồn dữ dội. Họ có thể cười, khóc, mất ngủ và đứt dây thần kinh vì một tác nhân bất kỳ li ti lơ lửng trong khối không khí bao quanh mình. Điều đánh động sâu xa đến tôi là tinh thần lao động nghệ thuật khi ở trong tình cảnh bề bộn đau đớn không cách gì kiểm soát được ấy. Sống cay đắng điên loạn trong sự ruồng bỏ và chứng nghiện ngập, Verlaine vẫn miệt mài sáng tác cho đến hơi thở cuối cùng. Và những tác phẩm ra đời như hoa nở trên sa mạc xương rồng.

Chuyến đi đã gần một năm trước đây rồi. Hôm nay, cô giáo nhắc đến Nabokov và Rimbaud trong lúc góp ý cho bài vẽ của tôi. Mà Rimbaud chính là gã thiếu niên tiểu quỷ ám ảnh suốt đời Paul Verlaine. Cả hai đều là những phù thủy ngôn từ. Phải chăng hồn thơ có một không hai của Arthur Rimbaud là điều đã khắc dấu trong lòng Verlaine khiến ông điên dại lạc lối mãi về sau? Phần mình, tôi luôn dành tình cảm đặc biệt cho các nhà thơ, nhà văn. Một xúc cảm thiên vị rõ rệt không bao giờ xảy ra giữa tôi và các nghệ sĩ ở những bộ môn khác.

Thế đó, bà giáo dạy vẽ tranh nhắc đến Rimbaud và ký ức cũ quay về. Tôi phải viết ra đây, nếu không nó cứ lẩn quẩn trong đầu tôi hoài. Mà tôi thì còn rất nhiều việc phải làm, không thể cứ mãi vẩn vơ về bầu trời ở Mons được, dù rằng hôm đó là một ngày thật đẹp.

Bruxelles tháng 10 – 2016

———

(*) BAM : Beaux-Arts Mons, tên gọi tắt của Musée des beaux-arts de Mons – Bảo tàng Mỹ Thuật Mons.

Một số hình ảnh tôi chụp vội bằng điện thoại trên đường từ chỗ đậu xe đến BAM, có hình không được rõ lắm:

Tờ rơi triển lãm Verlaine – Xà lim số 252 – Turbulences poétiques

affiche_verlaine_bil

Mưa trên thành phố Leuven

Tản văn của tôi trên tuyển tập Áo Trắng chủ đề “Mong chờ một cơn mưa”, xuất bản tháng 7.2016.

Ban đầu tôi đặt tựa là Những ngày mưa xa, sau đó nhà văn Đoàn Thạch Biền đã biên tập thành tên như trên, tôi thấy cũng hay hay vì nghe đỡ sến hơn.

Một người bạn ở Sài Gòn đã chụp dùm bức ảnh có bình hoa cẩm chướng rất dễ thương này. Bản thân tôi trước giờ chưa bao giờ được cầm trên tay cuốn Áo Trắng nào có bài viết của mình, chỉ có bản PDF do bác Biền gửi qua email cho.

Mưa trên thành phố Leuven

Mưa trên thành phố Leuven

Trước lúc lên đường, tôi đã ra cửa hàng chọn một chiếc dù màu xanh lam với ý nghĩ vật thể hình nấm này sẽ trông hệt như một đám mây lướt đi trong mưa. Thế mà trong những giây phút cuối cùng, sau khi đã đặt ra để vào không biết bao nhiêu lần các thứ lỉnh kỉnh lửng lơ giữa hai lựa chọn « mang theo –  bỏlại», tôi đã lấy chiếc dù ra khỏi vali. Kết quả của hành động này là cảm giác hối hận ngay lập tức khi vừa đặt chân đến sân bay Bruxelles. Trời đang mưa, và những người bản xứ đầu tiên tôi gặp trên đất Bỉ nói rằng, ở cái xứ này, ngày nào trời cũng mưa !

Điểm cuối trong chuyến hành trình của tôi là Leuven – một thành phố nhỏ cổ kính thuộc vùng nói tiếng Hà Lan của Vương quốc Bỉ. Những ngày mới đến, sự thay đổi môi trường đột ngột làm tôi luôn ở trong trạng thái lâng lâng như vừa đi lạc vào một thế giới khác. Ở Sài Gòn – nơi tôi vừa rời khỏi – nhiệt độ đang là 35 độ C, còn nơi đây, chỉ 8 độ dù đã chớm vào hè. Tôi chưa kịp quên cái nóng vẫn bao ngày bủa vây khắp da thịt thì đã bị ném vào một bể đá lạnh trong suốt vô hình.

Mùa hạ ấy, trời Leuven mưa lắc rắc suốt ngày. Xung quanh tôi là cây lá xanh mướt lướt thướt, là hoa tú cầu rưng rưng phớt nhẹ sắc tím xanh, là những con đường lát đá quanh co vọng tiếng ngựa xe từ trăm năm xưa cũ. Những nhà thờ cổ uy nghiêm, trầm mặc, nằm rải rác khắp nơi nhưng cửa đóng im lìm, bao người lướt qua hằng ngày mà chẳng ai ghé mắt đến. Trước mặt tôi, chúng vừa toát lên vẻ tàn phai dâu bể vừa mang nét kiêu hãnh lừng lững của những nhân chứng thời gian bất tử. Khung cảnh huyền hoặc tựa như được nhúng chìm trong một bản thánh ca cổ điển.

Trái ngược với vẻ cổ kính của thành phố, những cư dân nơi đây rất mực trẻ trung. Đại học Leuven là ngôi ngôi trường đồ sộ và lâu đời nhất của Bỉ, cũng là đại học công giáo nhiều tuổi nhất còn tồn tại. Khu trung tâm nhỏ nhắn với đường kính chỉ tầm năm kilômét của thành phố luôn tràn ngập những người trẻ như một ngôi làng sinh viên. Cảnh tượng thường bắt gặp trên đường là những chiếc xe đạp thanh mảnh khỏe khoắn của các cô cậu tú lao vút đi trong màn mưa.

Tôi để ý không thấy có bạn nào mặc áo mưa như ở Việt Nam. Sau ở một thời gian mới biết nguyên do. Thứ nhất là vì các quốc gia có khí hậu ôn đới biển đặc trưng như Bỉ tuy rất nhiều mưa, nhưng chỉ nhẹ nhàng tựa nước mắt tháng bảy của nàng Chức chàng Ngưu chứ ít khi nào có mưa rào trút nước. Thứ đến là áo khoác của mọi người ở đây thường có lớp ngoài cùng được dệt bằng chất liệu không thấm nước, thuận tiên cho việc đi mưa đi tuyết.

Thế là, để hợp thời tiết và hợp mốt, cũng là để giữ cho mình không bị biến thành con cá cơm đông lạnh giữa trời âu, tôi nhanh chóng sắm cho mình một chiếc áo khoác chống nước có mũ trùm đầu. Vẫn chưa đủ, còn phải tậu gấp một cây dù, để giữ cho sách vở trong ba lô sau lưng được khô ráo. Có điều, thật khó tìm được một chiếc dù xanh biếc màu trời nhiệt đới ở vùng đất này – nơi mà mọi người vốn ưa chuộng những gam màu trầm như sắc đá của các tòa lâu đài cổ.

Đến năm thứ hai ở Bỉ, tôi rút ra kết luận thời tiết nơi này cũng đỏng đảnh chợt nắng chợt mưa hệt như Sài Gòn, khác mỗi điều mùa mưa ở Việt Nam chỉ kéo dài sáu tháng còn ở đây thì mưa giăng suốt bốn mùa.

Có những buổi sáng trúng ngày công đoàn giao thông vận tải tổ chức đình công tôi đành cuốc bộ suốt đường mưa sụt sùi đến trường. Vừa đặt được một chân vào đại sảnh khô ráo, chưa kịp nhẹ nhõm hớn hở thì ngoảnh lại sau lưng đã thấy nắng gió reo vui. Hoặc ngược lại là những buổi chiều hanh vàng mật ong, cây lá ngoài trời thi nhau vẫy gọi. Nhưng bạn chớ thấy thế mà chủ quan, có thể chỉ vài phút sau khi ban phát vạt nắng rực rỡ chan hòa đó bầu trời đã chuyển tông ủ ê xám xịt, mọng nước như sắp xập. Có lẽ vì ở đây nắng ấm hiếm hoi nên mọi người càng phát cuồng vì những lần xuất hiện chóng vánh của nắng!

Những lúc trống tiết, tôi hay ngồi gần một cửa sổ nào đó trong trường, vừa đọc sách vừa nhìn ra sân trường lác đác từng cụm sinh viên. Khoảng không gian xanh rộng ấy thường hút mắt tôi về đường chân trời – nơi hay có những tia sáng ánh tím hắt ra mỗi lần trời sắp mưa. Đầu tiên, vệt tím xuất hiện ngoài xa, bọn sinh viên đang tụ tập sẽ lục tục dời chỗ, một vài chiếc ô xòe ra. Sau đó nhanh thôi, những giọt mưa bắt đầu để lại các vệt long lanh trên cửa kính, tôi sẽ bấm nút play cho bài Norwegian wood vang lên trong tai nghe của mình. Không phải bản ghi âm kinh điển của The Beatles mà là bản hát lại với giọng nữ trong trẻo của Priscilla Ahn. Tiếng guitar lang tang chen giữa những tiếng rì rào của cơn mưa diễn ra cho tôi cảm giác mình đang nghe được âm thanh vọng lại từ lòng đại dương : tiếng hát của nàng tiên cá!

Đối với tôi, khúc nhạc khi mưa ấy giống như một con tàu đưa mình băng qua nửa vòng trái đất, ngược về khoảng thời gian một nghìn ngày trở về trước, lúc tôi vẫn còn đang ở Sài Gòn, ngồi trông ra cửa sổ có gió thổi mưa bay, trong tiếng hát của nàng tiên cá Priscilla đang ngân nga chính giai điệu này.

Một vài hình ảnh tôi chụp Katholieke Universiteit Leuven, ban biên tập đã lựa ra 2 hình để minh họa cho bài viết.