Le voyage d’Olfat – Miomie

Mi Nguyen - Publication 1

Mi Nguyen - Publication 2

Advertisements

Ở bên kia ngọn núi

Pohan bảo rằng anh không bao giờ muốn ra đi. Nhưng phiến quân đã lên tiếng đe dọa và không thể tiếp tục đặt gia đình mình vào tình thế hiểm nguy. Thực sự, tôi đã không quyết định được nên tin bao nhiêu phần vào những điều trên. Tất cả những người vượt biên đến châu Âu đều nói giống như vậy. Các viên chức xét duyệt hồ sơ xin tị nạn của chính phủ Bỉ chắc chắn là có nghiệp vụ hơn tôi trong lĩnh vực này. Tôi sẽ để việc đánh giá về tính xác thực của từng trường hợp cụ thể cho họ vậy.

Nhưng tôi tin vào vẻ mặt đau đớn của Olfat khi cậu nhắc đến đứa em trai đáng thương của mình. Tôi cũng tin vào chặng đường xuyên qua mười một quốc gia để đến Bỉ mà cậu kể cho tôi nghe. Ở những đoạn khó diễn đạt bằng tiếng Anh, Olfat dùng cử điệu hoặc vẽ hình lên giấy để làm sáng tỏ câu chuyện.

Thoạt đầu, người dẫn đường yêu cầu một triệu một trăm nghìn rupi Pakistan cho chuyến đi từ tỉnh Nangarhar. Cha mẹ Olfat không thể xoay sở đủ nên cuối cùng họ thỏa thuận với mức giá chín trăm nghìn rupi. Số tiền này tương đương với tám nghìn euro và sẽ được thanh toán sau khi cậu tới được nước Đức.

Olfat vượt qua biên giới giữa Afghanistan và Pakistan trên một chiếc xe bán tải cùng với mười bảy người khác. Thùng xe không có mui và quá nhỏ cho từng ấy đàn ông. Họ phải nằm chồng chéo lên nhau khi ngủ. Tài xế thì say khướt, luôn luôn có một chai rượu ngay cạnh vô lăng. Xe chạy rất nhanh, không dừng lại một lần, kể cả khi có hai người rơi xuống đường vì sự dằn xóc dữ dội.

Họ đi bộ năm ngày trong tình trạng thiếu nước uống dưới thời tiết nắng gắt. Sau đó phải trèo qua một ngọn núi hiểm trở vào ban đêm. Olfat hầu như không nhìn thấy gì vì trời rất tối. Có hai người đã ngã xuống núi mặc dù lần này họ di chuyển thật chậm. Tất cả đều hiểu rằng như thế là hết đối với những kẻ xấu số. Quy tắc ở trên ngọn núi cũng tương tự như trên chiếc xe ngày đầu tiên: trong bất cứ trường hợp xảy ra tai nạn cá nhân nào, cả đoàn vẫn tiếp tục không gián đoạn.

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, có những người Afghanistan khác chuyên tiến hành các vụ bắt cóc những đồng hương đang trên đường vượt biên để đòi tiền chuộc từ gia đình họ.

Biên giới Bulgaria là một vùng đồi núi nhiều cây rậm rạp. Nhóm của Olfat, lúc này đã lên đến bốn mươi tám người, băng rừng trong bốn ngày đêm. Nhiều người bị thối móng chân cần phải được dìu đi. Một người bị thương ở đùi vì chó nghiệp vụ của cảnh sát tuần tra. Cả bọn bị phát hiện và trả về biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Người dẫn đường chuẩn bị một ít thức ăn nhằm đánh lạc hướng bầy chó rồi đưa tất cả quay lại Bulgaria lần nữa. Mọi chuyện trót lọt, họ thoát sang được Serbia. Bắt đầu từ đây, phương tiện di chuyển chủ yếu là xe lửa và xe buýt.

Khi đến Đức, đoàn người tị nạn nhận được thức ăn và quần áo ấm của Hội Chữ thập đỏ. Đa số người quen của Olfat bị Đức từ chối tiếp nhận đã sang Pháp hoặc Anh để tìm cơ hội. Cậu chọn nước Bỉ nên mua vé tàu đến ga Bruxelles Midi. Tổng cộng Olfat đã đi qua mười một nước hoàn toàn bằng đường bộ: Afghanistan, Pakistan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Serbia, Croatia, Slovenia, Áo, Đức và cuối cùng là Bỉ.

Pohan cũng trải qua hành trình tương tự nhưng rút ngắn được thời gian nhờ một chặng máy bay. Anh mất bốn mươi mốt ngày để đến Bỉ, so với Olfat là năm mươi ba ngày.

Trước khi tiếp xúc với Olfat và Pohan, tôi có thể thờ ơ với tin tức về người nhập cư Afghanistan trên truyền hình, có thể phát biểu một cách lạnh lùng là chiến tranh ở đó đã qua rồi. Thực tế là ở những trạm tiếp nhận tị nạn ban đầu, không có chỗ cho những người đến từ Afghanistan, quốc tịch Syria hay Libya được ưu tiên hơn. Nhưng những gì các cậu đã trải qua thực sự chạm đến tôi khi trực tiếp nghe về nó.

Chuyến xe, ngọn núi và những người biến mất trên đường đi là ấn tượng kinh hoàng đối với Olfat. Sau đó thì cậu chấp nhận phó mặc mọi chuyện cho số phận. Tự nhiên tôi hiểu ra vì sao người tài xế phải uống rượu mới giữ được cho chiếc xe chạy một mạch không dừng lại. Đó là những kinh nghiệm mà không ai muốn gặp phải trong đời. Dù nguyên nhân những thanh niên này đến đây là gì chăng nữa thì bây giờ tất cả đều là những người đang gặp nạn, không gia đình, không nhà cửa, không bánh mì, không áo rét.

Khi Olfat tới khu cắm trại dành cho dân tị nạn mới đặt chân đến Bỉ, những người Syria không thích bọn Afghanistan như các cậu vì e sợ bị chiếm mất vị trí. Olfat trải qua mười ngày trên đường phố Bruxelles trước khi có người hướng dẫn đến trung tâm Samusocial, nơi tôi đã gặp các cậu lần đầu tiên. Tôi thấy mừng cho Olfat vì sau tất cả những ký ức không hề dễ chịu đó, cậu vẫn giữ được nụ cười hiền hòa và thái độ sống tích cực. Tôi cũng vui lây vì ở Samusocial cậu có giấy và bút chì để vẽ thay vì lang thang vô định ngoài đường.

Lúc dự án sắp kết thúc cũng là lúc tôi biết tin Pohan bắt đầu đi làm trong một nhà hàng do trung tâm giới thiệu. Hồ sơ xin tị nạn của anh vẫn chưa có kết quả nhưng hiện giờ cuộc sống đã cân bằng hơn với một công việc mang lại thu nhập ổn định. Dù tôi không chắc rằng đó là việc làm lý tưởng đối với một kỹ sư tin học như Pohan.

Trước lúc lên đường, Olfat và Pohan không biết được những gì đang chờ đợi mình ở bên kia biên giới. Cũng như trước khi gặp các cậu, tôi không dự đoán được mình sẽ phản ứng như thế nào khi đến thật gần những câu chuyện từ một vùng đất xa xăm như thế. Nếu không mở lòng lắng nghe, ngọn núi định kiến sẽ mãi sừng sững che mờ mắt khiến ta không nhận ra những con người đang cần được giúp đỡ đang ở ngay trước mặt mình.

 

Năm mới exotic 2

Exotic – tôi mới biết chữ này gần đây thôi, đến khi tới Bỉ mới biết. Từ ngữ hay được những người ở đây sử dụng để nói về những vật có nguồn gốc xuất xứ từ một nơi xa xôi, đặc biệt là các loại cỏ hoa, cây cối, động vật … Trong trí nhớ hình ảnh của tôi, từ này gắn liền với những cánh hoa hồi và hạt cà ri bắt gặp được trong một tiệm tạp phẩm châu Á chuyên về đồ khô gia vị. Lần đầu tiên tôi trông thấy chữ exotic là trên bảng hiệu của cửa hàng ấy. Cũng có lúc nó mang dáng hình của những bông sứ trắng, đóa râm bụt hay bụi thiên điểu với cánh hoa vút nhọn và tàu lá xanh óng ánh như trên những tấm ảnh quảng cáo cho các spa hay nơi nghỉ mát. Đó là những minh họa về từ exotic do các cư dân xứ lạnh tạo ra và tôi là người tiếp nhận khi đến sống ở vùng đất của họ. Với những người bản xứ Bỉ và châu Âu, nghĩa phổ biến của exotic đại diện cho một khu vườn nhiệt đới lạ lẫm, sắc thái mang ít nhiều sự khơi gợi về tính chất bí hiểm chưa được khám phá tỏ tường.

Vậy mà khi trông thấy mảnh sân nhà sau gần bốn năm xa cách, cảm giác đầu tiên vỡ ra trong lòng là từ ngữ đó, exotic. Nghĩa là xanh mướt, hình dạng uốn lượn đặc biệt. Có đẹp thật, nhưng trên tất cả là sự xa lạ, cảm giác như vừa đặt chiếc vali xuống một hòn đảo du lịch xa xôi nào đó nằm giữa Thái Bình Dương, chứ không phải là trở về nhà, nơi mình đã sinh ra và trải qua thời thơ ấu.

Thuở nhỏ, nhà tôi bé tí xíu, bao quanh là các khu vườn thật rộng, cả vườn nhà mình lẫn của hàng xóm. Nhà tôi với hai nhà kế bên không có hàng rào ngăn cách. Đó là thiên đường của tôi, những mảnh đất đen nâu xen lẫn lá cỏ, điểm xuyết vài chấm vàng cam hồng tím của hoa trái theo mùa. Trên đó còn có biết bao sinh vật lúc thì lặng lẽ cặm cụi, lúc ồn ào nhiễu sự di chuyển qua lại. Với tôi, những con kiến lửa trên cây khế nhà ông H. cũng quen thuộc như con sâu xanh mướt trên cây lài trâu trước sân nhà mình. Con rắn thẳng đuột một lần tình cờ trông thấy trên thân mãng cầu gai bên chú C. cũng khiêm tốn vô hại như bầy nòng nọc dưới rãnh nước nhà ngoại. Mấy con heo ham ăn của thím T. cũng thân thương như đám gà qué hư thân mất nết cứ làm bậy khắp nơi trên sàn nước sau nhà …

Rồi theo thời gian, những căn nhà to thêm, cao thêm còn cây cối, côn trùng, vật nuôi thời ấy lần lượt biến đi đâu mất. Những mảnh vườn được tỉa tót chăm chút nhiều hơn khi diện tích của chúng thu hẹp lại chỉ còn một góc nhỏ. Vườn mía rậm rạp phía sau nhà đã được thay bằng một khoảng trống chỉ vừa đủ để sắp lên đó những chậu kiểng đất nung san sát nhau. Mảnh sân trước được phủ cỏ mượt mà nhưng mấy cái cây trên đó tôi không biết tên. Sân nhà chú C. bây giờ cũng rất đẹp với những bông súng được trồng trong lu nước. Tôi đồ rằng chẳng có con rắn nào ẩn nấp được ở khu vườn đó. Con trai Thím T. không kế nghiệp nuôi heo của cha mẹ mà chuyển qua chăm sóc một bầy chim kiểng nhốt trong cả chục cái lồng to.

Gọi điện cho cậu bạn cùng về dịp tết thì nó bảo cũng đang cảm thấy hoang mang như tôi. Nhà bạn cũng sửa sang cơi nới nên nhìn lạ hoắc, y chang như đang ở khách sạn. Trong bốn năm chúng tôi ở Bỉ, cảnh vật xung quanh hầu như không thay đổi. Thời gian ở đó chỉ là những vòng lặp nhịp nhàng trên những vòm cây cứ hoa rộ, lá xanh, lá vàng rồi trơ trụi cành khô. Năm tiếp theo, mọi chuyện lại diễn ra hệt như vậy. Cây nào đứng ở đâu thì vẫn nằm im đó. Đường xá, nhà cửa và cả thời trang của những người đi trên phố cũng không thấy khác đi. Cogn ở đây, bốn năm dường như là bốn mươi năm vậy. Tất cả đều lao vùn vụt về phía trước.

Thật là trớ trêu khi ở đó, sự hiện diện của chúng tôi được gọi là exotic. Rồi khi trở về, hình ảnh nơi được gọi là “nhà” đối với mình cũng biến thành exotic nốt.

Nhưng mà, nhớ lại cho cặn kẽ thì tôi đã rời đi lâu lắm rồi, từ cấp ba đã lên tỉnh trọ học, sau đó là những ngày tháng ở Sài Gòn sôi động. Trong suốt khoảng thời gian xa cách ấy, có tâm trí nào dành cho những cái cây, con kiến, con gà, con sâu ở quê nữa đâu, dù thỉnh thoảng có ghé về chốc lát. Những gì lưu giữ trong ký ức là chuyện của tuổi thơ xa lắm. Chuyến bay hôm đó đáp xuống vào ban đêm. Do trời tối và mệt mỏi, hầu như không nhìn thấy phố phường trên chặng đường từ Sài Gòn về đến thị trấn, tâm lý của tôi đã không được chuẩn bị cho những đổi thay vốn diễn ra từng ngày trên mảnh đất này. Vì vậy, khi bắt gặp nó ở nhà mình, bất ngờ càng lớn.

Tết đi loanh quanh chúc tuổi bà con, thấy hóa cũng chưa có ai quên mình, dù nhiều năm chẳng trông thấy tôi được mấy lần. Đối với chòm xóm, tôi vẫn là con bé rụt rè ít nói thỉnh thoảng tha thẩn trong vườn nhà họ, như chưa hề có sự trưởng thành hay những thay đổi diễn ra bên trong nhận thức. Quan trọng nhất là về phần mình, tôi thấy cảnh vật có khác đi nhưng con người ở đây hình như vẫn vậy. Đối với những lưu luyến tuổi thơ của tôi thì đó là điều dễ chịu. Mười ngày sau thì nhà cửa và những khu vườn kiểu mới cũng dần trở nên quen thuộc. Nhưng đó cũng là lúc lại phải ra sân bay nữa rồi.

20170206-WP_20170206_007

Trong lòng tháp nhà thờ Köln

Nhà thờ chính tòa Köln có hai ngọn tháp chuông cao 157m. Du khách có thể trèo lên 509 bậc đá xoắn ốc trong lòng tháp nam để ngắm nhìn phong cảnh sông Rhine từ độ cao 98m. Không rõ tôi đã đến bậc thứ mấy, thử lướt mắt qua ô thông gió, đã thấy mình ở trên hẳn tất cả các mái nhà xung quanh. Góc nhìn và khung cảnh khá tương đồng với các bức minh họa thường gặp của cuốn Nhà thờ Đức bà Paris. Loạt tranh vẽ Quasimodo gục ngã trên cao, xung quanh là những bức tượng ác thú đầu sừng có cánh, chi tiết trang trí đầu máng xối phổ biến của lối kiến trúc gothic, hậu cảnh là thành phố Paris rộng lớn diễm lệ bên dưới, tương phản với vẻ ma quái điêu tàn của các chủ thể chính.

Tôi cũng đang lọt thỏm trong sự đối lập đậm đặc tính gothic đó. Bên ngoài là bầu trời thoáng đãng, con đường phía trước nhà ga tấp nập khách du lịch, vô số thanh niên gái trai xinh đẹp tán gẫu trên những bậc thang rộng thênh tràn nắng. Còn ở chốn này, trong tháp chuông hun hút, cột không khí hầm mộ tỏa ra từ đất đá xù xì của một ngôi nhà thờ có nền móng từ thời trung cổ đang bao bọc tất cả.

Lòng tháp nhỏ hẹp như một ống khói, đường kính ngắn hơn sải tay một người cao ráo. Chiều rộng bậc thang chỉ vừa đủ dể hai dòng khách tham quan lên xuống ngược chiều đặt chân. Tôi đang ở hàng đi lên, nhưng sao không thấy mình đang đến gần bầu trời, mà ngược lại, cảm giác như đi vào địa ngục. Càng ngày vực thẳm dưới chân càng sâu thêm. Khung cảnh giống như trong các giấc mơ dữ từng trải qua, nơi mà nỗi sợ hãi được phóng chiếu thành những hình ảnh rất cụ thể: trượt chân khỏi các nấc thang trên bức tường dựng đứng hoặc bị mắc kẹt trong một nhà tắm nhỏ xíu không thể động cựa được. Ở đây hiện diện cùng lúc cả hai nỗi kinh hoàng đó, sự rơi ngã và không gian bó chật.

Vậy nên tôi đã không đủ dũng khí để leo lên đến tận cùng ngọn tháp. Không ai muốn sống một cơn ác mộng có thực. Tôi chọn dừng lại và quay xuống, ra khỏi tháp ngắm nhìn công trình kiến trúc gần tám trăm năm tuổi từ xa. Ngôi thánh đường đồ sộ như một tòa thành, lãng mạn mà hoang dại. Vẻ lộng lẫy dường như chỉ tồn tại trên những tấm ảnh đã qua bộ lọc và ống kính chuyên nghiệp hơn là dưới ánh sáng đời thực. Mặt tây có diện tích khổng lồ, đen đúa màu khói, bên trên tua tủa vô số những chóp nhọn cạnh răng cưa. Nhìn từ phía này, nhà thờ trông như một vương miện bằng sắt đặt trên mặt đất.

Một người bạn đã từng nói với tôi hồi bé anh rất sợ các tranh tượng của Thiên chúa giáo, chúng thường chảy máu, sầu não hoặc trông dữ tợn. Thầy giáo người Bỉ thì bảo rằng nếu một bức tranh hay một câu chuyện chỉ thuần mô tả những điều êm đềm, nó sẽ trượt đi mà không để lại bất cứ dấu ấn nào trong lòng người. Không rõ đó có phải là phương châm sáng tác đã tồn tại từ xa xưa của các nghệ sỹ phương Tây hay không. Tôi thích những yếu tố fantasy nhưng cũng e ngại những chi tiết rùng rợn của dòng tiểu thuyết gothic, tuy đến nhà thờ hàng tuần nhưng thỉnh thoảng cũng thấy hình ảnh chúa Jesus chịu nạn quả có hơi dễ sợ nếu đặt cạnh tượng phật Thích Ca tọa đài sen.

Cứ cho rằng đó là sự khác biệt về thị hiếu Đông – Tây. Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng, cho dù mình có thích hay không thì sự đau đớn và nỗi sợ hãi vẫn luôn luôn có ở đó, nơi cuộc sống trần gian này. Trong tôn giáo nào đi nữa, siêu thoát hay cứu rỗi luôn đi kèm với trừng phạt và hy sinh.

Trước khi lên tháp chuông, tôi đã mua vé vào thăm phòng châu báu của nhà thờ, thấy trong đó bao nhiêu là gậy, mũ, áo choàng của các giám mục, cùng vô số chén thánh, đồ trang trí tinh xảo … tất cả đều bằng vàng bạc, đá quý. Rất ấn tượng. Nhưng rồi đọng lại nhất trong tâm trí sau chuyến ghé thăm thành Köln vẫn là lòng tháp tù túng. Tôi nghĩ về cảnh ngộ của Quasimodo. Một kẻ giật chuông nếu phải trải qua phần lớn đời mình trong những ngọn tháp như thế này, thì có khác gì lúc nào cũng cận kề địa ngục đâu.

Bóng ma trong nhà hát ở Las Vegas

Cảm giác phù phiếm ở Venezia làm tôi nhớ chuyến đi Vegas hai năm trước đó. Hai thành phố đều là những thiên đường du lịch, nơi nhân loại đổ xô đến để tạm quên con người thường nhật với các bổn phận đủ loại phải mang vác quanh mình. Chốn lý tưởng để bỏ lại phiên bản đại diện chính thức của mình ở nhà, hoặc cất vào túi xách, có khi là giấu trong chiếc đồng hồ vàng, dưới vành mũ hay đằng sau một gọng kính màu mè…  Người ta nhìn thấy ở Venezia sự lãng mạn gợi mở về một vận may tình ái và trông đợi ở Las Vegas vận may của lòng tham. Một bên được xây trên mặt nước, một đằng mọc lên từ sa mạc. Tất cả đều bắt đầu từ ý chí kiêu ngạo điên rồ của con người. Cả hai đều là những bữa tiệc bất tận, là giấc mơ quyến rũ mà ai trong đời cũng ước mơ được một lần chìm đắm.

Nếu Venezia có một mạng lưới các kênh rạch đan khắp thành phố như những mạch máu thì nguồn sống của Vegas là một trận đồ các sòng bài thông nhau như tổ mối. Có thể di chuyển giữa các tòa nhà mà không cần ló mặt ra đường, chỉ cần đi xuyên qua tầng tầng lớp lớp những dãy máy đánh bạc. Giá thuê khách sạn không đắt, thậm chí miễn phí nếu là khách quen chơi bài. Căn phòng tôi ở có một mặt bằng kính, đối diện là bãi đậu xe tám tầng được che đậy bằng tấm panô khổ lớn in hình pháo hoa. Buổi sáng thức dậy kéo rèm ra, cảnh vật trước mắt là một tấm thiệp chào mừng. Welcome to Vegas!

Đường xá rộng thênh thang. Hai bên là đủ loại kiến trúc hỗn tạp, từ Âu đến Mỹ, từ cổ điển đến cách tân. Ban ngày, sự giả mạo trải rộng khắp thành phố.

Tôi tìm thấy một núi lửa ngụy tạo với các cơn chất động phun trào theo thời gian biểu, một tháp Eiffel mô hình và cả một Venezia sao phỏng. Tất nhiên là ở kích cỡ nhỏ hơn vật gốc. Những bản sao này là đồ trang trí lôi kéo sự chú ý của các khách sạn kiêm casino, trung tâm mua sắm kiêm sòng bài hoặc nhà hát có kinh doanh thêm chỗ đánh bạc. Quần thể Venezia giả có tên chính thức là Venetian, nghĩa là người Venezia, thuộc về Venezia. Đây là phức hợp của sòng bạc lớn nhất kết hợp với khách sạn lớn thứ nhì thế giới. Quảng trường Saint Marco và Grand Canal phiên bản nhái cũng dập dìu gondola gọi mời. Có điều, nước dưới kênh lớn tĩnh lặng trong veo, màu sắc xanh lơ một cách khó hiểu như thuốc sát trùng.

Khi đêm xuống, Vegas bừng tỉnh. Vẻ mênh mông của đường phố bị bóng tối che lấp. Bảng hiệu neon chớp nháy nồng nhiệt khắp nơi. Những anh chàng da đen chào mời tờ rơi trên các vỉa hè. Hãy đến với show của chúng tôi. Đủ mọi loại show, vào tất cả các ngày trong tuần; hòa nhạc của các nghệ sỹ tên tuổi; ca múa tạp kỹ cháy nổ hoành tráng với màn phụ họa tưng bừng của dàn vũ công ngực trần; thoát y nam hoặc nữ trong các không gian nhỏ hơn ấm cúng hơn; show thể thao cho những anh chàng mê hành động; nếu bạn có con trẻ, hãy đưa chúng đi xem ảo thuật hoặc xiếc và tất cả, bao gồm chính bạn, sẽ ghi nhớ những ký ức ma thuật đó cả đời …

Giữa muôn trùng lưới nhện các món tiêu khiển mà hệ thống giải trí của Vegas chăng ra, tôi đã nhắm sẵn một lựa chọn từ ban sáng: vở nhạc kịch The phantom of the opera trông thấy trên áp phích bên ngoài tòa nhà Venetian.

Trước đây tôi chưa từng đi xem kịch, dù là kịch nói hay kịch hát. Ở lần chạm ngõ đầu tiên, loại hình sân khấu cộp mác Broadway này đã không mang đến thất vọng. Phần đông khán giả đến nhà hát với lệ bộ khá trịnh trọng, đối lập hẳn với những chộn rộn bên ngoài. Rạp kín mít không còn chỗ trống.

Nhân vật Bóng ma – The phantom – được xây dựng theo mô típ thiên tài bị nguyền rủa. Sinh ra với một khuôn mặt dị dạng, tồn tại trong gánh xiếc như vật mua vui, trốn thoát, rồi sống ẩn dật bên dưới nhà hát opera như một con chuột. Sở hữu tài năng trác tuyệt về kiến trúc và âm nhạc nhưng tâm hồn nhiều tổn thương dần trở nên méo mó thành một bóng ma ghen tuông và cay đắng, cuối cùng nhận lãnh kết thúc bi thảm. Những ngón nghề thiết kế sân khấu được tận dụng tối đa trong phân cảnh Bóng ma đưa người tình vào sào huyệt trên con sông ngầm dưới lòng đất bằng gondola hay lúc chùm đèn khổng lồ trên mái vòm nhà hát đột ngột rơi thẳng xuống hàng ghế khán giả khiến mọi người một phen hú hồn. Âm nhạc, thơ ca, mỹ thuật và kỹ thuật đã kết hợp cùng nhau tạo ra một không gian chuyện kể tuyệt đẹp trong khán phòng.

Tôi biết mình không phải là người duy nhất bị buổi biểu diễn chinh phục. Khi tấm rèm đóng lại, một cô gái đã tiến lại gần sân khấu, đứng lặng hàng chục phút âu yếm ngắm nhìn dàn nhạc bên dưới, mặc dòng người qua lại ra về.

Năm đó ở Las Vegas, đồng nghiệp người Malaysia đi cùng thắng bạc được một trăm đô. Tôi mất một trăm lẻ mấy đồng cho tấm vé xem nhạc kịch. Nhưng cũng nghĩ rằng mình đã thắng.

 

IMG_0238
Vegas trip, 2012