Venezia của Casanova

Tôi nhớ mình đã từng áy náy thế nào vì quyết định cúp cua ba ngày để đi Ý. Lúc ấy năm học ở Bruxelles mới bắt đầu được một tuần, năm đầu tiên của tôi ở một đại học Pháp ngữ.

Sau đó thì nỗi lo âu bài vở đã rơi xuống nước, mất hút trong sóng biển Adriatic, khi chiếc waterbus dập dềnh tiến vào Venezia – một nồi lẩu năm tháng, trong đó khái niệm về thời đại trở nên nhạt nhòa vì các ảnh tượng cũ mới không ngừng trộn lẫn vào nhau. Loại quang cảnh có thể đẩy nhận thức tôi vào một miền miên man hư ảo, tương tự cảm giác mà âm nhạc của Enya mang lại.

Có nhiều thứ đặc biệt có và không có ở Venezia.

Dinh thự bằng cẩm thạch, đường phố tíu xíu, cầu điệu đàng, kênh đỏm dáng, gondola lả lướt, đồ thủy tinh lấp lánh, mặt nạ carnival diêm dúa huyền bí … là những thứ đã làm Venezia vang danh thế giới.

Không có xe hơi, tuyệt nhiên không. Không thấy những công chức hối hả tất bật, những học sinh sinh viên ôm cặp sách nhởn nhơ, những bà mẹ đẩy xe nôi cùng con sưởi nắng, những chợ rau củ thịt cá tươi … Rất nhiều khách du lịch nhưng rất ít các cư dân thật sự.

Không có bầu không khí của những sinh hoạt thường nhật.

Tất cả sự có mặt và vắng bóng đó làm nên đặc tính của một hội chợ, một bữa tiệc, một sân khấu hơn là một thành phố đang còn sống. Đến cả tấm pano quảng cáo cũng không thật, cô nàng trên đó trông như một nữ bá tước nhợt nhạt thời Venezia còn là một quốc gia cộng hòa độc lập chứ không phải một siêu mẫu sống ở thế kỷ hai mươi mốt. Giữa khung cảnh ấy, người ta có quyền mơ mình là một phần của vũ hội hóa trang bất tận, nơi cầm chắc hậu quả là để cho lòng mình đi lạc, tỷ như anh chàng trong bài hát Stupid mistake của Gareth Gates thời còn tóc vuốt múi chôm chôm.

Phim ảnh, clip nhạc lấy bối cảnh Venezia thì nhiều. Danh nhân xứ này phải nhắc đến trước tiên là Marco Polo – nhà thám hiểm đã được lấy tên đặt cho sân bay của thành phố. Nhưng một tính cách Venezia tiêu biểu trong lòng tôi thì nhất định không ai thích hợp hơn Casanova – tay sát gái hào hoa của điện ảnh lẫn truyền hình mà cũng là một tác giả có thật ở Venezia vào thế kỷ mười tám, thời kỳ cực thịnh của quần đảo này. Lúc đó Venezia được xem như thủ đô giải trí của châu Âu, là điểm đến vui vẻ của những quý ông trẻ tuổi, đặc biệt là đàn ông Anh Quốc. Sòng bài, carnival xa hoa và các cô gái giang hồ xinh đẹp là những thứ được cho phép phát triển mạnh mẽ để thu hút du lịch, dù rằng khi ấy chính quyền thành phố vẫn còn rất bảo thủ về chính trị và tôn giáo.

Bây giờ thì các cô gái đến Venezia cũng nhiều như các chàng trai. Venezia vẫn được coi là thành phố của sự lãng mạn, nhưng theo một nghĩa khác với thời đó. Thực tình tôi thấy cũng không khác lắm. Ngày nay, một phụ nữ cũng có thể đóng vai Casanova.

Đêm cuối cùng ở Venezia của tôi trôi qua trên đảo Lido, khu vực diễn ra liên hoan phim Venice hàng năm. Số tiền còn lại gần như cạn sạch cho một bữa tối gồm vang trắng, pizza nấm, cơm hải sản nấu phô mai và vẹm hấp rượu trong một nhà hàng ngoài trời. Không khí biển gần kề cùng những tàng cây lá kim cứng cáp duyên dáng đã lấn áp sự quấy nhiễu khó chịu của bọn muỗi ẩn nấp trong các chậu ôliu chờ đêm xuống mới chui ra săn người. Khung cảnh trở nên hoàn hảo khi có tiếng guitar mạnh mẽ quyến rũ cất lên bên vòm cổng uốn bằng những thân leo. “Chẳng có lý do nào đến với tôi. Và cơn mưa đang trút xuống. Không có lý do nào …” Bài ‘74 – ’75 của The Connels đây mà. Bản cover hay nhất tôi từng được nghe. Hoặc giả tất cả chỉ là hiệu ứng do mấy ly rượu trắng mang lại. May mà trong túi còn một đồng hai euro để thả vào chiếc nón của chàng ca sỹ. Vâng, chẳng có lý do nào. Vì bạn đang ở Venezia của Casanova.

 Nhân chuyến đi Venezia tháng 9 – 2014.

Advertisements

Nụ cười xì trum

Vài năm trước, nếu không bắt gặp bức tượng chú Xì Trum nhoẻn miệng cười trên một con đường nhỏ gần ga trung tâm Brussels chắc tôi vẫn nghĩ các nhân vật tí hon da xanh kia là sáng tạo của người Pháp. Nhưng rồi sống ở đây thêm một thời gian nữa mới thấy rằng, bộ truyện tranh này mang đậm tính cách Bỉ: hóm hỉnh, sống chan hòa ngay giữa những khác biệt và cực kỳ yêu mến những điều bé nhỏ.

Tên gọi Schtroumpf (phiên âm tiếng Việt là Xì Trum) có nguồn gốc từ sự đãng trí của của tác giả Peyo trong một bữa ăn với bạn bè. Chuyện kể rằng lúc ấy ông đột nhiên quên mất từ “muối” nên bí quá nói bừa “Chuyển giùm tôi lọ … lọ …  xì trum”. Người bạn đáp lại “Đây, xì trum của anh đây, dùng xong nhớ trả lại nhé”. Thế là cả buổi chiều hôm đó, hai người đã trò chuyện với nhau bằng ngôn ngữ mới vừa phát minh ra: tiếng Xì Trum. Chi tiết này sau đó đã được đưa vào xuyên suốt các tập truyện. Trong tiếng Xì Trum, từ này không mang nghĩa cố định mà đóng vai trò vạn năng, có thể dùng thay thế cho động từ, tính từ lẫn danh từ và được hiểu ý tùy theo từng ngữ cảnh.

Cũng xoay quanh đề tài ngôn ngữ, trong tập số 9 xuất bản năm 1973 Schtroumpf Vert et Vert Schtroumpf  (Xì Trum Xanh và Xanh Xì Trum), tác giả đã tiết lộ rằng ngôi làng Xì Trum được phân chia thành hai miền Nam – Bắc và các Xì Trum ở hai bên có quan điểm khác nhau về cách sử dụng thuật ngữ “xì trum”, đặc biệt là trong các từ ghép. Chẳng hạn, nên gọi một vật thể dùng để khui nút chai là « đồ mở nút trum »  hay « đồ làm xì trum cái nút ». Câu chuyện này được coi là một sự nhại lại về cuộc chiến ngôn ngữ giữa hai cộng đồng nói tiếng Pháp và Hà Lan ở Bỉ.

Bên cạnh tiếng Xì Trum, ngôi làng các Xì Trum sinh sống cũng là một điểm nhấn gây tò mò. Vị trí địa lý của làng rất khó xác định, đến nỗi không ai biết « Vùng đất vị nguyền rủa » ấy nằm ở đâu ngoài thông tin chắc chắn là thuộc châu Âu. Dựa vào xuất thân của tác giả, người hâm mộ hay đoán già đoán non rằng ngôi làng nhất định phải nằm trong một vùng cây cối rậm rạp, dân cư thưa thớt, giống như sở thích của người Bỉ – Luxembourg. Vậy nên, nhiều khả năng đó là tỉnh Ardèche ở miền nam nước Pháp. Mà có lẽ đúng thế thật, nếu giở trang đầu tiên trong tập 23, Les Schtroumpfs joueurs, sẽ bắt gặp một khung tranh có vẽ số nhà là « Aubenas 15 », giống như một địa chỉ ở Ardèche.

Một đặc điểm rất Bỉ nữa của bộ truyện là cách xây dựng hình tượng nhân vật và mối xung đột chính của cốt truyện. Với kích thước cơ thể chỉ cao bằng ba quả táo, các Xì Trum liên tục gặp nguy hiểm trong môi trường tự nhiên. Thêm vào đó, mặc dù khi mới nhìn qua, tất cả đều có vẻ ngoài giống hệt nhau nhưng mỗi Xì Trum là một cá thể độc đáo mang tính cách rất riêng. Những va chạm chí chóe bất tận trong ngôi làng cũng do đó mà ra.

Tuy nhiên, sự đe dọa lớn nhất với cộng đồng Xì Trum lại bắt nguồn từ mối quan hệ của Xì Trum với con người mà cụ thể ở đây chính là phù thủy Gargamel tượng trưng cho mặt tối của nhân loại. Dù vậy, các Xì Trum đã quyết định bắt chước xã hội loài người ở sự đoàn kết tập thể, vượt qua những khác biệt cá nhân để mang lại an toàn và cân bằng cho cuộc sống của mình. Chính trong sự yếu đuối, bé nhỏ mà làng Xì Trum tìm được sức mạnh để … tiếp tục lẩn trốn. Với Xì Trum, độc giả tìm thấy một nguồn năng lượng tích cực để vui sống những điều giản dị chứ không phải để chiến đấu đánh nhau bằng bất cứ giá nào.

Sẽ là thiếu sót khi nói về sự thành công rực rỡ và sức sống bền bỉ suốt sáu thập kỷ của Xì Trum mà không nhắc đến vai trò nuôi dưỡng và nâng đỡ của cái nôi truyện tranh Bỉ. Điều này hoàn toàn không phải tình cờ. Người ta nói rằng giữa nước Bỉ và truyện tranh đã có mối tình lãng mạn kéo dài hơn một trăm năm.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, các tác giả  vùng Wallonia – Brussels đã tập trung đầu tư sáng tác truyện tranh thay vì các thể loại văn học cổ điển, vốn được cho là khó lòng cạnh tranh với nền xuất bản cùng ngôn ngữ của người láng giềng Pháp hùng mạnh. Tiếp đó, truyền thống biên tập cởi mở của Bỉ kết hợp với một sự dễ tính đáng yêu – không giống như sự kiểm duyệt của Pháp – đã giúp ngành nghệ thuật thứ chín này phát triển mạnh mẽ và không ngừng mở rộng. Hiện tại, những nhà xuất bản lớn nhất ở Bỉ không ai khác hơn là các đơn vị chuyên làm truyện tranh được sinh ra vào buổi bình minh của cuộc hôn nhân này.

Dĩ nhiên với tần suất ra sách mỗi năm một tập như hiện nay thì Xì Trum không còn chiếm thị phần đáng kể trong nền công nghiệp truyện tranh bao la bát ngát đầy ắp những câu chuyện và phong cách diễn họa mới mẻ của Bỉ. Tuy nhiên, cũng tương tự các nhân vật đã đi vào lịch sử như Tintin, Asterix hay Spirou, Xì Trum là biểu tượng mang lại cho nước Bỉ một nguồn lợi đáng kể qua việc thương mại hóa các sản phẩm ăn theo như trò chơi điện tử, phim hoạt hình, thú nhồi bông, mô hình PVC, đồ chơi trẻ em, vật lưu niệm, bảo tàng, công viên giải trí …

Và đó là cách mà ngày nay nụ cười Xì Trum tiếp tục lan tỏa đi khắp thế giới.

Tượng Xì Trum ở Brussels 2

Alice ở xứ truyện tranh

Nhớ lần đầu tiên bước vào hiệu sách Filigranes trên con đường mang tên Đại lộ Nghệ thuật – Avenue des Arts, tôi đã không khỏi choáng ngợp trước sự phong phú đa dạng của các ấn phẩm bìa cứng khổ lớn, đầy ắp các hình ảnh xinh đẹp trau chuốt tỉ mỉ như một tác phẩm nghệ thuật thực thụ. Lúc ấy mới hiểu vì sao trong tiếng Pháp người ta dùng từ « album » để chỉ những cuốn truyện tranh. Những lần sau này, khi ghé vào một thư viện công cộng bất kỳ hoặc các nhà sách tình cờ lướt qua trên phố, tôi vẫn luôn bắt gặp một không gian trân trọng và thái độ nâng niu dành cho truyện tranh như thế.

Nhiều năm qua, với niềm tự hào không che giấu, người Bỉ đã biến Bruxelles thành thủ phủ của bộ môn nghệ thuật thứ chín. Bằng những bức tường vẽ các hình ảnh truyện tranh tươi vui rải rác khắp thành phố. Bằng các tấm áp phích quảng cáo với nét bút hoạt họa đặc trưng. Bằng hàng loạt bảo tàng, trung tâm triễn lãm và cửa hàng dành riêng cho truyện tranh luôn tấp nập người lui tới. Bằng những lớp dạy vẽ kể chuyện dành cho mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người già. Bằng hàng trăm phong cách diễn họa và thể loại kịch bản truyện tranh khác nhau, đáp ứng mọi tâm tư sở thích của tất cả các tầng lớp độc giả mà bao nhiêu thế hệ họa sỹ và đội ngũ biên tập đã dày công xây đắp.

Hai tháng sau, tôi lấy tàu đến festival truyện tranh trong một tâm trạng náo nức tò mò. Đây là sự kiện được tổ chức tại Bruxelles hằng năm, kéo dài ba ngày, từ thứ sáu đến chủ nhật tuần đầu tiên của tháng chín.

Vừa ra khỏi ga trung tâm, mắt tôi đụng ngay … hàng trăm cái lưng của những người đang tập trung trên vỉa hè chờ đón đoàn diễu hành bong bóng. Tiếng kèn trống rộn rã đến trước, theo sau là từng đơn vị tuần hành trong trang phục đồng bộ chỉn chu đẹp mắt, các cô gái vận áo khoác nhung múa cờ xanh, các chàng trai mang bốt da đen tung cờ đỏ, đội cận vệ hoàng gia đội mũ cao nghễu nghện, đoàn ngự lâm quân mang liễu kiếm oai vệ, ban kèn đồng đường bệ nghiêm trang, các vũ công phục sức tua rua lông vũ rực rỡ … Lơ lửng bên trên tất cả, là tâm điểm của lễ hội : những chiếc bóng bay khổng lồ mang hình dáng các nhân vật truyện tranh.

Các người hùng tuổi thơ của tôi lần lượt lướt qua bầu trời, Superman, Tintin, Spirou, Astérix. Còn có các chú Xì Trum, gã mèo béo Le Chat, con sâu bướm đói bụng của Eric Carle, biểu tượng Atomium, cậu bé Manneken Pis và nhiều nhân vật mà tôi đành chịu thôi, không biết hết được. Tất cả cùng nhau rồng rắn trôi lững lờ qua các góc phố tựa một bản slow. Mặt đất xung quanh tôi thì rộn ràng nhộn nhịp nhưng các người bạn bong bóng trên nền mây bềnh bồng lại mang nét gì đó lãng đãng thờ ơ. Khi ngước nhìn lên trời tôi chợt có cảm giác mọi người vừa bị thu nhỏ lại và đây chính là thế giới của những nhân vật truyện tranh khổng lồ, chứ không phải của chúng ta.

Tôi đi theo đoàn bóng bay một đoạn dài, đến công viên Bruxelles thì thấy nơi này đã được khoác lên một diện mạo mới. Vô số các lều bạt màu trắng lớn nhỏ đã mọc lên khắp nơi trên bãi cỏ khuôn viên như một ngôi làng nấm. Bên trong những căn lớn là các hoạt động triễn lãm, hội thảo chuyên đề liên quan đến truyện tranh, giao lưu và ký tặng của các tác giả nổi tiếng, giới thiệu các nhà xuất bản và trường đào tạo nghệ thuật, mua bán và trao đổi truyện tranh mới cũ… Các gian hàng trò chơi hội chợ được đặt ở những túp lều nhỏ hơn. Nhiều tấm phông trắng xuất hiện để mọi người cùng nhau thỏa sức múa cọ. Dưới tán cây, các em bé ngồi hý hoáy vẽ vời hoặc háo hức chờ tới lượt mình được hóa trang thành chồn, cáo, mèo, thỏ với các màu lông sặc sỡ ánh nhũ.

Nhìn các tiểu yêu mặt mũi rằn rện tinh nghịch lần lượt ra đời dưới bàn tay phù phép khéo léo của các nghệ sỹ trang điểm làm tóc, tôi cũng ước phải chi mình bé lại để được ngồi vào chiếc ghế hóa trang biến hình kia mà không mắc cỡ trước mọi người. Rồi bỗng nhiên nhớ mình ngày nhỏ, khi đứng trong sân nhà ngắm những con diều tít xa chấp chới trong ánh chiều tà, tôi đã từng nghĩ chúng là những sinh vật có lông vũ dát vàng lấp lánh.

Vào cuối ngày, khi lễ hội sắp tàn, trong khoảnh khắc ngước nhìn bóng dáng chú sâu xanh len lỏi giữa phố xá để trở về tổ, tự nhiên tôi thấy nhen lên một ý nghĩ đồng cảm với nhân vật Alice của Lewis Carroll, phải chăng mình vừa đi lạc vào xứ sở diệu kỳ ?

Các vũ công

Nơi bốn mùa đi qua

Mỗi khi nghĩ về thời trung học, tôi không thể tránh khỏi ý nghĩ mãn nguyện pha lẫn chút tự hào: mình đã có tất cả trong khoảng thời gian ấy!

Trong ký ức của tôi, trường cấp ba Lương Thế Vinh giống như một ngôi nhà lớn xinh đẹp, nơi bốn mùa tuần hành qua hành lang trắng sáng trải dài, len lỏi giữa các hàng cây rồi gói gém những kỷ niệm của tôi và đám bạn trong những vạt nắng mưa của nó.

Thời tôi còn học, trường nằm trên một khu đất cao, riêng biệt với khu dân cư. Một không gian đủ tách biệt và yên tĩnh cho những suy tư tuổi chưa kịp lớn.

Mùa thu tháng chín, sân trường sặc sỡ bóng bay ngày khai giảng. Thường thì buổi lễ sẽ kết thúc khi nắng đã lên chói chang và hình ảnh những chùm bong bóng chỉ còn là cái chấm bé xíu trên nền trời mênh mông thăm thẳm. Tôi đã bắt đầu năm học lớp mười của mình trong khung cảnh đó, với một tâm trạng háo hức xen lẫn chút âu lo, về bài vở và các kỳ thi quanh năm, về tương lai chưa hình dung được của chính mình. Nhưng rồi, khi năm học thật sự đi qua dòng chảy thời gian, những băn khoăn ấy cũng dần trôi theo đâu mất. Vì tôi nhận ra mình không hề đơn độc dẫu từ nay phải sống xa nhà. Và vì trường tôi đẹp quá !

Mùa đông, thích nhất là lên trường vào buổi sáng sớm se lạnh. Tôi khám phá ra điều này vào một ngày tháng mười một, bởi sự cố đi học sớm quá mức. Gần tới trường, sau khi phát hiện mình đã xem nhầm đồng hồ, tôi tha thẩn đạp xe chậm lại, lơ đãng nhìn những hàng quán cửa đóng im lìm hai bên đường. Rồi bỗng dưng, khi mắt ngó lại về phía trước, tôi chợt ngỡ ngàng. Là ngôi trường của tôi, thấp thoáng sau làn sương mù đầu dốc, bồng bềnh như đang ở trong một đám mây …

Tôi rón rén vào trường. Thấy mình như đang ở giữa một giấc mơ lạ lùng. Tán cây bàng ve vẩy những chiếc lá đỏ, nổi bật giữa bầu trời tháng mười một trắng sáng dịu dàng. Những trái điệp đen treo mình lơ lửng giữa vòm lá tĩnh lặng tựa như những nốt nhạc đang nhảy múa. Hành lang trắng hiền quen thuộc bỗng trở nên chênh vênh như một dải lụa vắt vẻo băng qua sân trường. Chưa bao giờ tôi bắt gặp trường học quen thuộc của mình trong dáng vẻ vừa huyền ảo vừa thanh tịnh ấy. Hình ảnh của ngôi trường buổi sớm mai mùa đông đó cứ ám ảnh tôi mãi suốt những tuần sau đó.

Rồi đến mùa xuân. Trước kỳ nghỉ về quê ăn tết sẽ có một dịp cắm trại mà khó có LTVer nào quên được. Chúng tôi dựng lều quanh sân bóng đá rồi hì hụi trang trí bằng đủ thứ hoa lá mai đào, câu đối lẫn cây nêu. Buổi tổi thì ngồi bên nhau quanh đống lửa, ăn uống, nhảy múa, chọc ghẹo, tấu hài. Một ai đó gom cành khuynh diệp khô bỏ vào lửa. Nhựa cây bị đốt cháy tỏa ra mùi tinh dầu dễ chịu, lan đi cùng ánh lửa bập bùng, hòa lẫn vào bầu không khí trại đêm đầy phấn khích. Chúng tôi cùng hét thật to tên của các thành viên trong lớp rồi sau đó lần lượt từng đứa nhảy qua đống lửa sắp tàn mà chẳng cần một lý do nào. Sau này, khi xem lại những tấm hình chụp hôm ấy, tụi lớp vẫn còn hỏi nhau: tại sao lúc đó bọn mình lại làm cái trò này vậy? Chẳng đứa nào biết hết. Cứ nhảy là nhảy thế thôi.

Cuối cùng, mùa hạ ập đến với bao nỗi niềm. Đây cũng là khoảng thời gian tôi thích nhất trong năm. Thời khóa biểu sau kỳ thi bỗng trở nên nhẹ bẫng. Những buổi học kết thúc sớm đó, tôi không vội về ký túc xá, thay vào đấy là khoảng thời gian lân la ở thư viện trường – khối kiến trúc be bé khiêm tốn nằm nép riêng trong một khoảnh sân nhỏ, bốn mùa xôn xao bởi cây lá ngoài cửa sổ. Tôi thích nơi này cực kỳ. Những ngày chớm hè, cây bò cạp nước trước hành lang trổ hoa vàng rực rỡ, cảnh tượng xinh đẹp như trong chuyện thần tiên. Sắc vàng dịu mát nhưng rất đỗi huy hoàng ấy thắp sáng một góc trường, níu kéo cả những bước chân hiếu động nhất. Tôi mê lật sách cạnh những ô cửa thư viện. Lúc thì ngồi ở cửa sổ mặt tiền, nơi có cây hoa vàng và một hòn non bộ be bé, xung quanh lượn lờ cá chép. Lúc thì ngồi ở cửa sổ mở ra khu sân thể thao phía sau, nơi các bạn của tôi đang chơi bóng, thỉnh thoảng lại chạy tới, thò đầu qua chấn song để mang đến cho tôi một tin tức buồn cười vẩn vơ nào đó.

Khoảng thời gian sắp vào hè cũng là lúc hay có những cơn mưa ngắn, bất chợt đến và cũng rất nhanh đi. Sau mưa, mọi thứ đều trong trẻo, xanh mướt tinh khôi. Mùi đất ẩm và lá cây ngai ngái hướng ánh nhìn của chúng tôi về phía dưới gốc cây hoa vàng ; trên bãi cỏ còn đẫm nước là những vạt chua me đất xinh xắn trông rất giống cỏ ba lá. Bạn nói rằng nếu đưa chúng lên mũi ngửi, sẽ có mùi nước chanh, còn nếu há miệng cắn thử, sẽ thấy vị canh chua. Nhưng mà, khi chơi dưới gốc cây bò cạp nước thì phải để ý coi chừng dẫm phải mấy con sâu. Cái cây này rất thích nuôi sâu. Sau mỗi cơn mưa trời mát mẻ nên bọn chúng sẽ chui ra đi dạo. Lổm ngổm lăng xăng. Béo ú và nhiều vô kể !

Thế đó, những ngày cuối trung học của tôi đã đi qua dưới mái ngói thư viện có cây hoa vàng, có hương vị của lá me đất và có cả những con sâu.

Trong suốt nhiều năm sau, kể từ khi ra trường, tôi đã gặp thêm bao nhiêu cây bò cạp nước trổ hoa vàng ở khắp các nơi, nhưng không có cái cây nào tôi thấy đẹp mỹ miều được như cái cây ở Lương Thế Vinh năm ấy. Cũng không có hành lang, sân bóng hay buổi lửa trại nào ghi dấu ấn được như ở những năm tháng ấy. Trường tôi bây giờ đã được thay thế bằng một kiến trúc hoàn toàn mới. Sẽ không bao giờ tôi có thể thấy lại ngôi nhà bốn mùa hoa lá thời đó nữa. Dù vậy, tôi luôn có cảm tưởng rằng chẳng có thời gian nào có thể làm mờ hình ảnh của trường trong ký ức của mình được. Những kỷ niệm luôn tồn tại trong tâm trí tôi như từng chiếc gương nhỏ. Chúng sẽ mãi tươi sáng như đôi mắt của các bạn tôi năm nào, để mỗi khi soi vào đó, tôi lại được thấy mình thuở ấu thơ.

Bruxelles, tháng 9, 2014.

4

150624_084918__mg_3275
Thư mời của buổi lễ. Tôi là người đã vẽ bức tranh in trên đó. Lần ấy tôi không về dự được. Một em khóa dưới chưa từng gặp mặt đã chụp những tấm hình này rồi gửi cho tôi. Tình đồng môn thật đẹp. Duyên học chung trường, với tôi, cũng là duyên đẹp lạ lùng.
150624_085739__mg_3293
Ảnh chụp hành lang trường (kiến trúc cũ, thời tôi còn học) và bài viết này trên Kỷ yếu 20 năm.