Mưa trên thành phố Leuven

Tản văn của tôi trên tuyển tập Áo Trắng chủ đề “Mong chờ một cơn mưa”, xuất bản tháng 7.2016.

Ban đầu tôi đặt tựa là Những ngày mưa xa, sau đó nhà văn Đoàn Thạch Biền đã biên tập thành tên như trên, tôi thấy cũng hay hay vì nghe đỡ sến hơn.

Một người bạn ở Sài Gòn đã chụp dùm bức ảnh có bình hoa cẩm chướng rất dễ thương này. Bản thân tôi trước giờ chưa bao giờ được cầm trên tay cuốn Áo Trắng nào có bài viết của mình, chỉ có bản PDF do bác Biền gửi qua email cho.

Mưa trên thành phố Leuven

Mưa trên thành phố Leuven

Trước lúc lên đường, tôi đã ra cửa hàng chọn một chiếc dù màu xanh lam với ý nghĩ vật thể hình nấm này sẽ trông hệt như một đám mây lướt đi trong mưa. Thế mà trong những giây phút cuối cùng, sau khi đã đặt ra để vào không biết bao nhiêu lần các thứ lỉnh kỉnh lửng lơ giữa hai lựa chọn « mang theo –  bỏlại», tôi đã lấy chiếc dù ra khỏi vali. Kết quả của hành động này là cảm giác hối hận ngay lập tức khi vừa đặt chân đến sân bay Bruxelles. Trời đang mưa, và những người bản xứ đầu tiên tôi gặp trên đất Bỉ nói rằng, ở cái xứ này, ngày nào trời cũng mưa !

Điểm cuối trong chuyến hành trình của tôi là Leuven – một thành phố nhỏ cổ kính thuộc vùng nói tiếng Hà Lan của Vương quốc Bỉ. Những ngày mới đến, sự thay đổi môi trường đột ngột làm tôi luôn ở trong trạng thái lâng lâng như vừa đi lạc vào một thế giới khác. Ở Sài Gòn – nơi tôi vừa rời khỏi – nhiệt độ đang là 35 độ C, còn nơi đây, chỉ 8 độ dù đã chớm vào hè. Tôi chưa kịp quên cái nóng vẫn bao ngày bủa vây khắp da thịt thì đã bị ném vào một bể đá lạnh trong suốt vô hình.

Mùa hạ ấy, trời Leuven mưa lắc rắc suốt ngày. Xung quanh tôi là cây lá xanh mướt lướt thướt, là hoa tú cầu rưng rưng phớt nhẹ sắc tím xanh, là những con đường lát đá quanh co vọng tiếng ngựa xe từ trăm năm xưa cũ. Những nhà thờ cổ uy nghiêm, trầm mặc, nằm rải rác khắp nơi nhưng cửa đóng im lìm, bao người lướt qua hằng ngày mà chẳng ai ghé mắt đến. Trước mặt tôi, chúng vừa toát lên vẻ tàn phai dâu bể vừa mang nét kiêu hãnh lừng lững của những nhân chứng thời gian bất tử. Khung cảnh huyền hoặc tựa như được nhúng chìm trong một bản thánh ca cổ điển.

Trái ngược với vẻ cổ kính của thành phố, những cư dân nơi đây rất mực trẻ trung. Đại học Leuven là ngôi ngôi trường đồ sộ và lâu đời nhất của Bỉ, cũng là đại học công giáo nhiều tuổi nhất còn tồn tại. Khu trung tâm nhỏ nhắn với đường kính chỉ tầm năm kilômét của thành phố luôn tràn ngập những người trẻ như một ngôi làng sinh viên. Cảnh tượng thường bắt gặp trên đường là những chiếc xe đạp thanh mảnh khỏe khoắn của các cô cậu tú lao vút đi trong màn mưa.

Tôi để ý không thấy có bạn nào mặc áo mưa như ở Việt Nam. Sau ở một thời gian mới biết nguyên do. Thứ nhất là vì các quốc gia có khí hậu ôn đới biển đặc trưng như Bỉ tuy rất nhiều mưa, nhưng chỉ nhẹ nhàng tựa nước mắt tháng bảy của nàng Chức chàng Ngưu chứ ít khi nào có mưa rào trút nước. Thứ đến là áo khoác của mọi người ở đây thường có lớp ngoài cùng được dệt bằng chất liệu không thấm nước, thuận tiên cho việc đi mưa đi tuyết.

Thế là, để hợp thời tiết và hợp mốt, cũng là để giữ cho mình không bị biến thành con cá cơm đông lạnh giữa trời âu, tôi nhanh chóng sắm cho mình một chiếc áo khoác chống nước có mũ trùm đầu. Vẫn chưa đủ, còn phải tậu gấp một cây dù, để giữ cho sách vở trong ba lô sau lưng được khô ráo. Có điều, thật khó tìm được một chiếc dù xanh biếc màu trời nhiệt đới ở vùng đất này – nơi mà mọi người vốn ưa chuộng những gam màu trầm như sắc đá của các tòa lâu đài cổ.

Đến năm thứ hai ở Bỉ, tôi rút ra kết luận thời tiết nơi này cũng đỏng đảnh chợt nắng chợt mưa hệt như Sài Gòn, khác mỗi điều mùa mưa ở Việt Nam chỉ kéo dài sáu tháng còn ở đây thì mưa giăng suốt bốn mùa.

Có những buổi sáng trúng ngày công đoàn giao thông vận tải tổ chức đình công tôi đành cuốc bộ suốt đường mưa sụt sùi đến trường. Vừa đặt được một chân vào đại sảnh khô ráo, chưa kịp nhẹ nhõm hớn hở thì ngoảnh lại sau lưng đã thấy nắng gió reo vui. Hoặc ngược lại là những buổi chiều hanh vàng mật ong, cây lá ngoài trời thi nhau vẫy gọi. Nhưng bạn chớ thấy thế mà chủ quan, có thể chỉ vài phút sau khi ban phát vạt nắng rực rỡ chan hòa đó bầu trời đã chuyển tông ủ ê xám xịt, mọng nước như sắp xập. Có lẽ vì ở đây nắng ấm hiếm hoi nên mọi người càng phát cuồng vì những lần xuất hiện chóng vánh của nắng!

Những lúc trống tiết, tôi hay ngồi gần một cửa sổ nào đó trong trường, vừa đọc sách vừa nhìn ra sân trường lác đác từng cụm sinh viên. Khoảng không gian xanh rộng ấy thường hút mắt tôi về đường chân trời – nơi hay có những tia sáng ánh tím hắt ra mỗi lần trời sắp mưa. Đầu tiên, vệt tím xuất hiện ngoài xa, bọn sinh viên đang tụ tập sẽ lục tục dời chỗ, một vài chiếc ô xòe ra. Sau đó nhanh thôi, những giọt mưa bắt đầu để lại các vệt long lanh trên cửa kính, tôi sẽ bấm nút play cho bài Norwegian wood vang lên trong tai nghe của mình. Không phải bản ghi âm kinh điển của The Beatles mà là bản hát lại với giọng nữ trong trẻo của Priscilla Ahn. Tiếng guitar lang tang chen giữa những tiếng rì rào của cơn mưa diễn ra cho tôi cảm giác mình đang nghe được âm thanh vọng lại từ lòng đại dương : tiếng hát của nàng tiên cá!

Đối với tôi, khúc nhạc khi mưa ấy giống như một con tàu đưa mình băng qua nửa vòng trái đất, ngược về khoảng thời gian một nghìn ngày trở về trước, lúc tôi vẫn còn đang ở Sài Gòn, ngồi trông ra cửa sổ có gió thổi mưa bay, trong tiếng hát của nàng tiên cá Priscilla đang ngân nga chính giai điệu này.

Một vài hình ảnh tôi chụp Katholieke Universiteit Leuven, ban biên tập đã lựa ra 2 hình để minh họa cho bài viết.

Advertisements

Khu vườn bí mật và soup gà

Gửi bạn – người đang theo dõi  blog wordpress và fanpage Miomie.

Tôi cũng giống như bao nhiêu người trẻ khác hiện nay : sở hữu ít nhất một tài khoản mạng xã hội trên internet. Nhưng bạn biết không, tôi làm blog, lập page cả năm rồi mà chẳng cho ai biết, tôi chưa hề thông báo cho một ai trên account chính của mình. Tôi giấu link ở một nơi hẻo lánh. Thỉnh thoảng, tôi lang thang trên mạng rồi thả nó ở một nơi xa lạ mà mình chẳng quen ai, giống như khi bạn bỏ tấm giấy mời vào một cái chai rồi đem thả ra biển. Khi follower đầu tiên xuất hiện, tôi đã không khỏi thích thú. Điều đó hoàn toàn ngoài mong đợi. Một quà tặng cuộc sống.

Các bạn cho tôi cảm giác mình đang có một buổi tiệc hóa trang trong vườn nhà. Ở đây, tôi không mang một hình dáng vật lý nào cả, chỉ có những tiếng nói và ảnh tượng vọng ra từ chính sâu trong mình. Nếu các bạn biết tôi qua một bản CV xin việc, có thể mọi thứ sẽ rất khác. Nhưng đâu mới là thật, đâu mới là hóa trang, nhiều lúc tôi cũng không rõ đâu.

Tôi vẫn đang thiết kế lại khu vườn, theo thời gian nó sẽ trở thành như thế nào thì chính tôi cũng không biết. Còn hiện giờ, tiệc của tôi đãi bạn ở đây chỉ có duy nhất một món soup gà mà tôi nấu cho chính mình thôi. Việc chia sẻ cùng bạn chẳng hề làm soup nhạt đi hay vườn kém xanh mà còn ngược lại. Cảm ơn đã đến với tôi trong khu vườn bí mật này.

P.S : Khi tôi viết những dòng này thì blog có 9 follower và fanpage có hơn 40 like. Nhưng tôi biết, đó chỉ là con số máy móc, thực tế, số lượng các bạn đọc được bài này của tôi còn ít hơn một nửa số đó. Một lần nữa, lại cảm ơn bạn rất nhiều.

doi ban 3

Bà thầy bói ở Miếu Quan Công (La voyante du temple) – Marcelino Trương

Marcelino Trương là tác giả – họa sỹ minh họa và truyện tranh có mẹ là người Pháp, cha người Việt. Ông sinh năm 1957 ở Philippines, lớn lên ở Sài Gòn, Mỹ và Anh. Marcelino tốt nghiệp đại học Sorbonne Pháp ngành khoa học chính trị và văn chương Anh. Sau đó quyết định trở thành họa sỹ ở tuổi 26. Hiện ông sinh sống và làm việc tại Paris.

Bà thầy bói ở Miếu Quan Công (La voyante du temple) là sách thiếu nhi do Marcelino Trương sáng tác cả tranh và lời (bằng tiếng Pháp). Câu chuyện kể về cô bé Thủy Liên (Fleur d’eau) thích ăn xôi dừa, con của anh Hải (Océan) và chị Nguyệt Ảnh (Reflet de Lune), cháu bà cụ Mận (Mme. Prune). Nhà Thủy Liên làm nghề dán lồng đèn ở Hội An thời thế kỷ thứ mười chín. Trong nhà có nuôi một con vịt tên Vân, một con mèo tên Ngọc Trai và một con yểng tên Òng Ọc. Thủy Liên đang hết sức lo lắng vì chú chim bỗng dưng một ngày không còn hót cũng không bắt chước tiếng người được nữa.

Ở một vài tranh, tôi có dịch phần lời tương ứng của tác giả. Cuốn sách làm tôi muốn đi Huế với Hội An ghê nơi!

1

 

Miếu Quan Công chỉ cách đó hai bước chân. Trẻ em luôn được chào đón, miễn là không làm phiền sự yên tĩnh của nơi này. Thông thường Thủy Liên thích nán lại bên hồ cá để xem động thái của mấy chú cá cảnh vây dài sặc sỡ.

Lần này, không thèm nhìn chúng lấy một cái, cô bé vượt qua khoảng sân đầy nắng của ngôi miếu, đi thẳng về phía bóng tối nơi có bàn thờ dành riêng cho vị tướng Quan Vũ.

8

Thủy Liên cúi thấp trước tượng Quan Công.

Trong bộ áo giáp, vị tướng thời xưa có dáng vẻ to lớn đường bệ. Bàn thờ được tắm trong một đám mây khói hương dày đặc.

9

Có phải khói làm cô bé cay xè mắt, hay là vì em lo lắng cho người bạng đồng hành đã trở nên câm lặng của mình. Nước mắt lăn dài trên má Thủy Liên khi thốt ra lời cầu khấn : « Lạy Quan Thánh Đế, con tên là Thủy Liên, xin ngài hãy phù hộ độ trì cho chú chim yểng bé nhỏ của con »

Rời khỏi chính điện đầy nhang khói, Thủy Liên bị lóa mắt bởi ánh sáng ban ngày. Cô bé tấp vào trốn dưới một tán cây và thấy một người phụ nữ đang nhìn mình mỉm cười. Được cổ vũ bởi vẻ hiền từ của bà, Thủy Liên cất tiếng hỏi: “Bà là thầy bói của chùa, phải không bà? “

10

Phải. Cháu đoán đúng rồi. Thực ra, già lặng ngắm quá khứ và tìm câu trả lời về tương lai.

10a

– Con yểng của cháu bị ốm. Nó không muốn hát cũng không muốn nói nữa. Bà có thể tiên đoán tương lai của Òng Ọc không ?

-Chỉ cần nó chọn một trong những lá xăm này ! – Bà lão thầy bói nói.

Trên mỗi lá xăm có ghi một con số.

– Khoan đã bà ơi, cháu không có tiền. – Thủy Liên thì thầm.

Ai nói với cháu về tiền? – Bà lão tiên đoán hậu vận tốt bụng trả lời.

11

Thủy Liên đem chú chim ra khỏi lồng, và không cần ai yêu cầu, Òng Ọc nhẹ nhàng dùng mỏ gắp lấy một que tre đã lên nước bóng láng vì năm tháng.

Bà lão giải quẻ đọc con số khắc trên thẻ tre. Sau đó, bà giở cuốn sách bói toán giấy đã chuyển thành màu đen xạm vì xem qua quá nhiều lần.

12

«Gái nhỏ, sách này là cuốn chính xác nhất của già. Là Kim Vân Kiều của đại thi hào nức tiếng Nguyễn Du đó – bà thầy bói nói. Que xăm mà con yểng của cháu chọn tương ứng với một trang trong sách và trang này chứa đựng một câu thơ làm sáng tỏ tương lai người bạn đồng hành của cháu. Đây là điều già đọc được :

Buồng văn hơi giá như đồng,

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng »

Bệnh viện C Đà Nẵng

Hồi mới ra trường, tôi thấy mình còn ngơ ngác lắm. Vậy mà làm cái công việc phải đi như điên. Hầu như tuần nào cũng có hội thảo ở một tỉnh nào đấy. Hầu như tuần nào cũng « vác standee lên và đi ». Đến nơi thì tay bắt mặt mừng, lục tục dựng standee lên, sắp xếp phòng ốc, bật máy chiếu, thử micro, « action ! » bắt đầu trình diễn. Xong. Lại tay bắt mặt mừng, gấp standee lại, thu dọn các thứ, cuốn gói chuồn êm, kiểm kê doanh thu. Nhiều lúc có cảm giác hệt như Sơn Đông mãi võ.

Thường thì tôi không đi công tác một mình, trừ vài dịp đặc biệt trùng lịch ở nhiều nơi. Lúc đó, ba dược sỹ trong đội phải chia nhau ra, hai chị giám đốc sản phẩm sẽ cùng xuất hiện ở sự kiện quan trọng hơn, điểm còn lại, tôi đại diện. Luôn luôn là thế. Vẫn còn một cách phân công khác: hai chị sếp mỗi người quản một chương trình, rồi nơi nào cần người hơn thì tôi theo phụ. Cách này không bao giờ được áp dụng. Chẳng hiểu tại sao. Hồi đó tôi cũng ít thắc mắc. Chỉ nghĩ chắc các anh chị lớn thích tấn công tổng lực vào những mục tiêu chiến lược, còn với các chỗ thả cho tôi đơn thương độc mã, thắng thua gì cũng không đáng kể. Gần đây quen được một bạn ở Đà Nẵng qua mạng. Tôi bỗng nhớ ra lần duy nhất mình đặt chân đến thành phố có dòng sông Hàn này, chính là trong một chuyến công tác đơn độc như thế.

Lần đó, chuyến bay của tôi đến Đà Nẵng vào giữa trưa. Đi taxi tới khách sạn công ty cho địa chỉ thì họ nói đã ngưng hoạt động từ lâu. Cũng may họ không đóng cửa hoàn toàn nên tôi có chỗ ngồi tạm trong sảnh cho đỡ nắng. Lát sau, bạn marketing assistant ở văn phòng Sài Gòn đọc cho tôi một địa chỉ khác qua điện thoại. Anh xe ôm tôi hỏi báo giá mười ngàn. Lúc mới nghe tôi thấy trời ơi rẻ quá. Hóa ra là cũng không xa lắm.

Tôi nhận chìa khóa rồi ở yên trong phòng không đi đâu. Buổi tối ra ngoài lang thang tìm chỗ ăn mới thấy đường phố yên ắng buồn thỉu buồn thiu. Chẳng muốn đi lăng quăng trong khung cảnh đó, tôi ghé vào quán gần nhất, gắp được vài đũa thì hơi thất vọng, nghĩ chắc mình vào nhầm tiệm đồ chay rồi. Mà tiệm cũng chỉ bán duy nhất một món thôi.

Quán vắng hoe, chỉ có mình tôi, đèn điện mờ mờ, tô mì be bé, không một miếng thịt, tôi càng thêm sầu. Hồi chiều có hai bạn nữ trong đội sales địa phương ghé qua rủ dạo chơi vòng vòng thành phố nhưng tôi từ chối khéo, chủ yếu vì bản tính rụt rè, ngại người lạ. Các bạn khá dễ thương nhưng ngoài công việc đã trao đổi ra, tôi chẳng có gì để nói cả. Trước lúc đến đây tôi chỉ nghĩ đơn giản là đi làm việc. Hai bạn gọi tôi là chị nhưng tôi nghĩ họ đều lớn tuổi hơn tôi.

Mì ăn đã xong, hình như là mì quảng. Tôi chỉ đoán thế thôi, vì chưa ăn bao giờ nên không biết mì quảng nó ra làm sao, chẳng biết cái mình vừa ăn có đúng là mì quảng không, cách nêm nếm không giống khẩu vị miền Nam. Lúc hỏi tính tiền, chị bán quán nói mười ngàn, tôi lại thấy trời ơi rẻ quá, chắc tại ở Sài Gòn bị chặt chém quen rồi.

Tôi không còn nhớ được thêm mình đã làm gì cho qua cái đêm ở Đà Nẵng ấy. Có lẽ tối đó tôi chỉ ngồi trong phòng xem slide power point cho buổi thuyết trình ngày mai. Chuyến bay cũng mệt, chắc tôi đã đi ngủ sớm chẳng khó khăn gì. Nay nghe nói bạn ở Đà Nẵng, cảm giác nổi trôi ngơ ngác bơ vơ một mình thời đó lại ùa về. Tôi lấy sổ ra vẽ hình ảnh này, đặt tên là Bệnh viện C – nơi công ty đã cử tôi đến làm hội thảo. Khách sạn tôi ở có ga trải giường và gối màu trắng, cũng giống giường bệnh viện lắm.

img060

Vivi núi Vosges

« Một câu chuyện thật của sự thật về Vivi trên dãy Vosges – đứa trẻ hoang dã không muốn mặc quần. » Sách hợp tác giữa Aurélia Aurita và Frederic Boilet – hai họa sỹ kiêm tác giả.

Album này K. rất thích, vì không cần biết tiếng Pháp đọc vẫn thấy hay. Thực ra đây là một cuốn truyện không lời dài 90 trang.

Sách kể về một cô bé tóc xanh lớn lên hết sức hạnh phúc trong thiên đường của mình trên dãy Vosges, không hề biết đến sự tồn tại của thế giới loài người dưới chân núi.

Một ngày nọ, cô bé bị toán thợ săn bắt gặp đem ra khỏi rừng rồi được một bà mẹ mang về nuôi. Được đặt tên Victorine nhưng nó cố lắm cũng chỉ kêu được mấy tiếng vi… vi…vi… Vì thế, mẹ gọi nó thân mật là Vivi.

Vivi có một cái quần lót len huyền thoại do mẹ đan cho nhưng nhất quyết không chịu mặc, thà chết đói cũng không mặc. Nó chỉ thay đổi thái độ khi thấy mẹ suy sụp vì tuyệt vọng.

Sách dán mác 12- vì chứa một số hình ảnh « có thể làm tổn thương sự nhạy cảm của người lớn », khuyến cáo một cách hài hước “phụ huynh chỉ nên đọc khi có các bạn nhỏ kèm bên”, có lẽ là do những cảnh Vivi đánh lộn và bị lột quần hội đồng giữa sân trường. Bị trêu chọc, Vivi cóc thèm đòi lại quần nữa, cởi hết cả váy áo giày dép ra, cứ để vậy tiến tới nhìn chăm chăm về khu rừng xa xa sau song sắt cổng trường. Ông thầy ngán ngẩm rút chìa khóa mở cổng. Chỉ chờ có thế, Vivi lao vút trở về thiên đường của mình.

 

Trong truyện có chi tiết một cậu bạn mặt đỏ, ban đầu tưởng thích Vivi, sau mới biết có lẽ là thích cái quần len của Vivi hơn. Khi Vivi đi rồi, đám đông bắt nạt cũng đã giải tán, cậu chàng bèn len lén lượm cái quần còn lại trên sân trường đem về nhà mặc vô, tự ngắm nghía trước gương cười mãn nguyện.

Lúc mới đọc lần đầu, tôi bị bệnh nghề nghiệp, ngất ngây trước kỹ thuật kể chuyện bằng hình xuất sắc của sách nên chẳng còn tâm trí mà hiểu ra dụng ý của chi tiết lấy quần chip bạn nữ về mặc kia. Những nhát cọ mô tả chuyển động và tốc độ rất tài tình làm Vivi trở nên sống động trên trang giấy hơn bao giờ hết. Thủ pháp dùng màu sắc để phân biệt giữa hai thế giới cũng làm tôi thích thú.  Những gì Vivi biết và định vị được như thiên nhiên, muôn thú, cây cỏ … được tô các màu tươi sáng. Còn lại những điều xa lạ với Vivi như quần lót, thợ săn, người mẹ, nhà cửa, trường lớp, bạn học … thì để trắng không tô. Vivi nghe không hiểu tiếng người nên âm thanh cũng được diễn tả thành những tạp âm loằng ngoằng rằn rện. Tôi quá hoa mắt về phần kỹ xảo nhà nghề mà đơ luôn trước ẩn ý của tình tiết.

Quay qua hỏi K. thì bản nói thông điệp ở đây là hãy tôn trọng sự khác biệt và xem xét lại mọi định kiến về cái gọi là văn minh – hoang dã cũng như những quy ước biểu hiện giới. Như Vivi là con gái mà không thích mặc đồ vì nó làm Vivi cảm thấy vướng víu khó bay nhảy, còn cậu kia là con trai nhưng lại thích cái kiểu quần đó.

Tôi nghĩ là K. có lý. Nhưng vẫn thắc mắc sao cậu kia không mua quần mới, lại đi trộm cái quần Vivi đã mặc rồi. Thấy ghê ghê ! Ờ, nhưng mà trẻ con chắc tụi nó không care chuyện đó. =))

Dù sao đi nữa, tôi cảm thấy đây là cuốn sách về cá tính, sự tự do và một ít mâu thuẫn xã hội. Ít thôi nhưng đã không giải quyết được. Các tác giả họa nên một Vivi trong trẻo và đáng yêu nhưng không vẽ ra sự lạc quan thơ ngây hường phấn. Người lớn đọc cũng không thấy câu chuyện trôi tuột đi giản đơn như vài giây phút thư giãn cầm lên cuốn truyện trẻ con.

Cuối truyện là bức tranh Vivi ngồi ngắm hoàng hôn rực lửa đang buông xuống ngôi làng dưới chân núi, miệng ngắc ngứ vài âm thanh đã học được trong thời gian ở trường. Tôi nhìn cảnh đó cứ thấy man mác làm sao.

 

Mẹ Âu Cơ trong mắt các bạn Tây.

Vô thư viện mượn cuốn “Những nàng tiên trong truyền thuyết” lật ra mãi đến hai trang cuối cùng thì bất ngờ gặp chuyện kể về nàng Âu Cơ của Việt Nam. Sách do họa sỹ Anja Klauss vẽ. Mẹ Âu Cơ được cô Anja cho mặc áo dài đội nón lá khá tân thời. Mẹ còn được khắc họa là người con gái Việt Nam da vàng mũi tẹt môi hồng cánh sen để phân biệt với nàng Chức Nữ da trắng mũi nhỏ môi đỏ của Trung Quốc.
Về lời kể chuyện của nhà văn Christine Pompeï thì mình mạn phép được dịch đoạn đầu như sau:

NÀNG TIÊN ÂU CƠ
Ngày xửa ngày xưa, cách đây lâu lắm rồi, có nàng tiên Âu Cơ sống trên tận trời cao một hôm giáng trần. Đó là ngày bảy tháng giêng theo âm lịch. Nàng không đến đây một cách tình cờ. Nàng biết rằng khi nàng đặt chân lên mặt đất thì sẽ gặp được tình yêu của mình. Tuy nhiên, chàng trai ấy sẽ không xuất hiện trong hình dáng một con người bình thường. Chính xác là chàng trông như thế nào ? Nàng không biết. Nhưng nàng tin rằng mình sẽ nhận ra chàng ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Do đó mà nàng tiên Âu Cơ đã cảm nhận được một niềm xúc động lớn lao xâm chiếm khi nàng vẫn còn ở trên mặt đất. Chắc hẳn chàng không ở đâu xa. Ánh nhìn của nàng lướt qua đường chân trời rồi dừng lại trên một hình bóng giữa biển khơi. Nàng càng tiến lên, hình bóng ấy càng rõ ràng. Đó không phải là một người đàn ông giống như bao người khác. Trước mặt nàng tiên Âu Cơ chính là nhà Vua của các loài Rồng !
….

Mình dịch không được hay, nhưng đại khái truyện nó là như vậy =))