Địa ngục thì có gì vui ?

Tôi đang trong quá trình tạo ra một quyển sách tranh khởi đầu từ một chủ đề mà mình không bao giờ muốn đụng đến.

« Địa ngục ». Đề bài nhận được là vậy.

Chương trình học ở trường tôi đòi hỏi sinh viên ngành minh họa phải liên tục sáng tác ra những mẩu chuyện. Dù ngắn dù dài, dù đi kèm lời dẫn hay chỉ thuần hình ảnh, đó vẫn phải là một câu chuyện hoàn chỉnh. Có mở đầu, có phát triển, có nút thắt và có một kết cuộc. Việc đi tìm những câu chuyện luôn làm tôi cảm thấy thiếu hụt thời gian. Áp lực hoàn toàn không dễ chịu.

Tôi bắt đầu bằng những hình ảnh rời rạc tình cờ lướt qua tâm trí: một bông hồng, một cô gái, một con cá … Từ mỗi hình ảnh, tôi nghĩ ra những bối cảnh có thể vây quanh chúng. Có hàng trăm phương án để bắt đầu, từ mỗi mở đầu lại có hàng trăm phương án để tiến triển, và thường thì tôi không biết phải kết thúc hàng trăm câu chuyện đó như thế nào.

Phép màu dường như chỉ đến vào phút cuối. Một cái kết tạm-chấp-nhận-được sẽ hiện ra ở thời điểm vừa đủ để tôi có thể vẽ nó ra một cách nguệch ngoạc. Vừa đủ để các thầy cô giáo thở phào rằng cuối cùng con bé đã không thay đổi kịch bản nữa. Và đó là lúc mà mọi người, bao gồm cả tôi, hiểu ra tôi sẽ sống sót qua kỳ jury sắp tới.

Sau hơn hai năm thì tôi nhận ra rằng, ngay cả khi đề bài không yêu cầu phải tự nghĩ ra câu chuyện, rằng tôi có thể minh họa bất cứ một tác phẩm văn học đã có sẵn của ai đó mà mình thích, thì tôi vẫn chỉ muốn vẽ lại những câu chuyện của riêng tôi. Hành trình đi tìm một câu chuyện lôi cuốn hơn cả nỗi sợ hãi về deadline. Niềm phấn khích khi tìm được giết chết mọi động lực cầm bút lên minh họa cho các tác giả khác. Thầy cô giáo sau nhiều lần thót tim đã trở nên quen thuộc, thôi không còn lo lắng cho sự chết yểu của những đại diện ban đầu và sự bí hiểm của phiên bản cuối cùng sẽ được trình ra để chấm điểm nữa.

Quay trở về đề tài Địa ngục của năm nay. Tôi ghét chủ đề này, phải nói là như vậy. Giới nghệ sỹ trong các học viện phương Tây quá sung sướng, thừa mứa bình an đến mức phải tìm kiếm hứng thú trong những nỗi đau tưởng tượng. Tôi không sinh ra ở đây. Tôi lớn lên trong một môi trường mà sự bất công và bất hạnh bao quanh cuộc sống con người như không khí. Đâu cần phải nhắc với người ta về địa ngục nữa khi họ đã ở trong nó rồi.

Dù sao, tôi phải học xong và phải tốt nghiệp. Và tôi biết phen này mình cũng sẽ thay đổi kịch bản tám trăm lần, hệt như đã từng làm với tất cả các đề bài La vie en rose trước đây.

Tôi đã vẽ một vài phác thảo nhân vật. Hoàn toàn không chắc là những người phụ nữ lớn bé này có tồn tại được cho đến khi quyển sách trở thành bản in hay không.

img324

img325

img326

Với mỗi quyển sách tranh được thực hiện, tôi có một cuốn sổ riêng biệt để ghi chép lại những thử nghiệm và ý tưởng trong quá trình làm sách. Ba phác thảo này là ba trang trong quyển vở nháp dành cho đồ án Địa ngục. 

img324

Một mình một xe

Tình cờ đọc một blog mạng, thấy nhắc đến chuyện ra đường buổi sớm để đi ăn cưới, đầu óc liền triệu tập một loạt những hình ảnh thời quá vãng.

Nhớ lệ bộ đi tiệc cưới của mình hôm đó. Tóc uốn lọn, mi chuốt mascara, chân mày tỉa tót cẩn thận, áo đầm, giày cao gót, cổ đeo một món trang sức lóng lánh màu cam – trùng màu với họa tiết trên váy, mũ bảo hiểm xanh lam. Sài Gòn 5 giờ sáng, một mình vặn tay ga giữa đường phố vắng hoe. Rồi thì rẽ vào ký túc xá Đại học, nơi chưa từng bước chân qua bên kia cánh cổng, dù đã từng là sinh viên của trường này suốt 5 năm. Đám cưới diễn ra ở tỉnh xa, cô dâu sắp đặt một chiếc xe lớn để đón bạn bè đồng môn tại đây.

Buổi tối về đến chỗ trọ, việc đầu tiên là lên mạng skype với người yêu ở xa tít. Vẫn còn mặc váy hoa và chưa tẩy trang. Hôm ấy có chụp vài tấm hình qua webcam. Sau này mỗi lần mở ra xem lại có cảm giác như đã sống qua hai cuộc đời. Hoặc là có hai khuôn mặt. Dạo đó đi làm thường phải cố đủ trò để trông già dặn hơn, công việc nên tiến triển thuận lợi ngay từ những giây phút gặp gỡ đầu tiên, nên luôn luôn là vậy. Bây giờ thì ăn mặc tóc tai như một sinh viên ngố chính hiệu.

***

Rồi thấy mình chạy xe trên đường lúc mười giờ tối. Xung quanh cũng vắng vẻ như khi đi ăn cưới buổi sớm nọ. Chen giữa tiếng gió rì rù lướt qua hai bên tay lái là một giọng chỉ muốn gào lên trong lồng ngực : I made it! Finally, I made it!

Hôm ấy là ngày treo xong đồ án tốt nghiệp, coi như kết thúc khóa học theo đuổi trong hai năm rưỡi. Khoảng thời gian ban ngày đi làm, buổi tối đi học. Ban ngày không đi làm thì ra cà phê sách nhờ gió mát điều hòa viết báo cáo. Buổi tối không đi học thì vùi mặt vào laptop, bấm chuột loạn xạ với đám bài tập thiết kế. Hai lãnh vực chẳng có liên quan gì đến nhau. Đầu óc như bị xẻ đôi còn thời gian sống của phần xác thì bị cắt đi còn một nửa. Đã từng nghĩ tốt nhất là nên trở thành tâm thần phân liệt hai nhân cách đối lập để cho khỏi loạn trí. Bao lần định bỏ cuộc, trong cơn gắng gượng đã đi hỏi hết người ngày đến người khác liệu có nên bước tiếp.

***

Lại thấy mình vào một lúc mười giờ tối khác, di chuyển chậm chạp từng tấc mét trong dòng nước ngập cuồn cuộn của Sài Gòn sau trận mưa lớn. Chỉ trông mong xe đừng chết máy hay phi vào cái ổ gà nào. Giờ mà ngã xuống thì không biết làm sao mà lôi cái cục sắt hơn trăm kg lên khỏi con sông này được.

Cũng một dịp mười giờ tối mưa to hồi cấp ba, bãi giữ xe nơi luyện thi đại học biến mất trong biển nước. Chiếc xe đạp bị vùi xuống bùn, tiếp đó là nhiều xe khác đè lên, cả một dãy xe ngã rạp như cờ đôminô. Loay hoay mãi không được đành lội bộ về ký túc, nhờ bạn bè qua trường vớt xe lên dùm. Trong lúc bặm môi nâng nâng kéo kéo, chiếc dép màu hồng tuột khỏi chân, trôi lềnh bềnh. Bì bạch đuổi theo. Cả bọn được phen cười vang khoái chí. Ít ra khi đó có bạn học, có ký túc xá cạnh trường. Nếu mấy nhỏ cùng phòng không trục xe lên được thì sẽ nhờ đến thầy quản sinh.

Lúc này thì chẳng có ai.

Việc đang làm, cuộc đời đang sống, ba mẹ ở quê không hình dung được, người yêu ở xa cũng chẳng tỏ tường hơn là bao. Không ai biết đang ở trong những gì ngoài chính mình. Nếu những gì tin tưởng không xảy ra như dự liệu, thì tự chịu thôi.

Có tiền trong tài khoản. Tất cả tự do trong tay, dưới chân, trên mắt lẫn môi. Cô độc đi kèm, như một quả bóng bay màu đỏ cột dây vào vành tai, lúc nào cũng lở lửng trên đầu. Trong thang máy tòa nhà lắp kính, trong tiệm cà phê ghế mây máy lạnh, trong siêu thị lúc chín giờ tối, trên vỉa hè cạnh xe hủ tiếu gõ, trong quán bún chả kế bên ly sinh tố mãng cầu. Và trên những con đường thoáng đãng quang quẻ sáng sớm khuya muộn. Dẫu một mình một xe bon bon giữa phố hay gà gật trong taxi ra sân bay lúc bốn giờ sáng vẫn nơm nớp lo sợ. Hôm nay mình có thể chết mà không ai hay biết. Dám lắm.

***

Đôi lúc nghĩ nếu anh chàng nào xuất hiện lảng vảng quanh đó, chắc sẽ có ngay một màn lao đầu vào đam mê lấp chỗ trống. Bất chấp mối quan hệ bao năm với người tình viễn xứ.

Nhưng mà ngẫm ra điều này không được thực tế cho lắm. Với cái thời khóa biểu như vậy thì một con hà mã ồn ào phi lý lù lù ngay trước mắt cũng trở nên vô hình nữa là mấy chàng trai lịch sự nhã nhặn.

Người chuyện trò nhiều nhất có lẽ là sếp nhỏ. Thói quen viết lách đã chuyển từ nhật ký sang email bàn bạc công việc. Có lần ở lại công ty chờ một kiện hàng quan trọng. Lúc nhận được đã 21h. Sếp cứ giục gửi email thông báo vài dòng cho sếp lớn ngay thời điểm ấy. Nhưng tôi mệt rồi, tôi muốn đi về, để ngày mai đi. Không, phải gởi ngay bây giờ, để ổng còn biết mày đã ở lại công ty đến giờ này.

Cũng vì mấy cái mail gửi đi tầm 22 – 24h mà sau này nghe đồn sếp nhỏ nói với chị kia là M. nó chăm lắm, làm ngày làm đêm. Hà, khá khen cho cụm chữ « làm ngày làm đêm » của ông í. Chả hiểu thời đó sống ra sao. Thực sự thì cũng chẳng có thời gian mà nghĩ ngợi về việc ấy. Dù sao thì sếp cũng đã không quên tăng lương cho đều đều.

Chỉ nhớ một lần cô bé kia hỏi về cảm giác khi yêu xa, chắc không đến nỗi nào, vì chị vẫn có công việc và những thú vui khác. Ý là kiểu con gái hiện đại tháo vát thì đâu cần một anh chàng kè kè bên cạnh. Thành thật là không muốn tô hồng cái gì với em cả, nên đã trả lời “Chị muốn tình trạng này chấm dứt càng sớm càng tốt. Nó không hề hạnh phúc em à.”

Ở bên kia ngọn núi

Pohan bảo rằng anh không bao giờ muốn ra đi. Nhưng phiến quân đã lên tiếng đe dọa và không thể tiếp tục đặt gia đình mình vào tình thế hiểm nguy. Thực sự, tôi đã không quyết định được nên tin bao nhiêu phần vào những điều trên. Tất cả những người vượt biên đến châu Âu đều nói giống như vậy. Các viên chức xét duyệt hồ sơ xin tị nạn của chính phủ Bỉ chắc chắn là có nghiệp vụ hơn tôi trong lĩnh vực này. Tôi sẽ để việc đánh giá về tính xác thực của từng trường hợp cụ thể cho họ vậy.

Nhưng tôi tin vào vẻ mặt đau đớn của Olfat khi cậu nhắc đến đứa em trai đáng thương của mình. Tôi cũng tin vào chặng đường xuyên qua mười một quốc gia để đến Bỉ mà cậu kể cho tôi nghe. Ở những đoạn khó diễn đạt bằng tiếng Anh, Olfat dùng cử điệu hoặc vẽ hình lên giấy để làm sáng tỏ câu chuyện.

Thoạt đầu, người dẫn đường yêu cầu một triệu một trăm nghìn rupi Pakistan cho chuyến đi từ tỉnh Nangarhar. Cha mẹ Olfat không thể xoay sở đủ nên cuối cùng họ thỏa thuận với mức giá chín trăm nghìn rupi. Số tiền này tương đương với tám nghìn euro và sẽ được thanh toán sau khi cậu tới được nước Đức.

Olfat vượt qua biên giới giữa Afghanistan và Pakistan trên một chiếc xe bán tải cùng với mười bảy người khác. Thùng xe không có mui và quá nhỏ cho từng ấy đàn ông. Họ phải nằm chồng chéo lên nhau khi ngủ. Tài xế thì say khướt, luôn luôn có một chai rượu ngay cạnh vô lăng. Xe chạy rất nhanh, không dừng lại một lần, kể cả khi có hai người rơi xuống đường vì sự dằn xóc dữ dội.

Họ đi bộ năm ngày trong tình trạng thiếu nước uống dưới thời tiết nắng gắt. Sau đó phải trèo qua một ngọn núi hiểm trở vào ban đêm. Olfat hầu như không nhìn thấy gì vì trời rất tối. Có hai người đã ngã xuống núi mặc dù lần này họ di chuyển thật chậm. Tất cả đều hiểu rằng như thế là hết đối với những kẻ xấu số. Quy tắc ở trên ngọn núi cũng tương tự như trên chiếc xe ngày đầu tiên: trong bất cứ trường hợp xảy ra tai nạn cá nhân nào, cả đoàn vẫn tiếp tục không gián đoạn.

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, có những người Afghanistan khác chuyên tiến hành các vụ bắt cóc những đồng hương đang trên đường vượt biên để đòi tiền chuộc từ gia đình họ.

Biên giới Bulgaria là một vùng đồi núi nhiều cây rậm rạp. Nhóm của Olfat, lúc này đã lên đến bốn mươi tám người, băng rừng trong bốn ngày đêm. Nhiều người bị thối móng chân cần phải được dìu đi. Một người bị thương ở đùi vì chó nghiệp vụ của cảnh sát tuần tra. Cả bọn bị phát hiện và trả về biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Người dẫn đường chuẩn bị một ít thức ăn nhằm đánh lạc hướng bầy chó rồi đưa tất cả quay lại Bulgaria lần nữa. Mọi chuyện trót lọt, họ thoát sang được Serbia. Bắt đầu từ đây, phương tiện di chuyển chủ yếu là xe lửa và xe buýt.

Khi đến Đức, đoàn người tị nạn nhận được thức ăn và quần áo ấm của Hội Chữ thập đỏ. Đa số người quen của Olfat bị Đức từ chối tiếp nhận đã sang Pháp hoặc Anh để tìm cơ hội. Cậu chọn nước Bỉ nên mua vé tàu đến ga Bruxelles Midi. Tổng cộng Olfat đã đi qua mười một nước hoàn toàn bằng đường bộ: Afghanistan, Pakistan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Serbia, Croatia, Slovenia, Áo, Đức và cuối cùng là Bỉ.

Pohan cũng trải qua hành trình tương tự nhưng rút ngắn được thời gian nhờ một chặng máy bay. Anh mất bốn mươi mốt ngày để đến Bỉ, so với Olfat là năm mươi ba ngày.

Trước khi tiếp xúc với Olfat và Pohan, tôi có thể thờ ơ với tin tức về người nhập cư Afghanistan trên truyền hình, có thể phát biểu một cách lạnh lùng là chiến tranh ở đó đã qua rồi. Thực tế là ở những trạm tiếp nhận tị nạn ban đầu, không có chỗ cho những người đến từ Afghanistan, quốc tịch Syria hay Libya được ưu tiên hơn. Nhưng những gì các cậu đã trải qua thực sự chạm đến tôi khi trực tiếp nghe về nó.

Chuyến xe, ngọn núi và những người biến mất trên đường đi là ấn tượng kinh hoàng đối với Olfat. Sau đó thì cậu chấp nhận phó mặc mọi chuyện cho số phận. Tự nhiên tôi hiểu ra vì sao người tài xế phải uống rượu mới giữ được cho chiếc xe chạy một mạch không dừng lại. Đó là những kinh nghiệm mà không ai muốn gặp phải trong đời. Dù nguyên nhân những thanh niên này đến đây là gì chăng nữa thì bây giờ tất cả đều là những người đang gặp nạn, không gia đình, không nhà cửa, không bánh mì, không áo rét.

Khi Olfat tới khu cắm trại dành cho dân tị nạn mới đặt chân đến Bỉ, những người Syria không thích bọn Afghanistan như các cậu vì e sợ bị chiếm mất vị trí. Olfat trải qua mười ngày trên đường phố Bruxelles trước khi có người hướng dẫn đến trung tâm Samusocial, nơi tôi đã gặp các cậu lần đầu tiên. Tôi thấy mừng cho Olfat vì sau tất cả những ký ức không hề dễ chịu đó, cậu vẫn giữ được nụ cười hiền hòa và thái độ sống tích cực. Tôi cũng vui lây vì ở Samusocial cậu có giấy và bút chì để vẽ thay vì lang thang vô định ngoài đường.

Lúc dự án sắp kết thúc cũng là lúc tôi biết tin Pohan bắt đầu đi làm trong một nhà hàng do trung tâm giới thiệu. Hồ sơ xin tị nạn của anh vẫn chưa có kết quả nhưng hiện giờ cuộc sống đã cân bằng hơn với một công việc mang lại thu nhập ổn định. Dù tôi không chắc rằng đó là việc làm lý tưởng đối với một kỹ sư tin học như Pohan.

Trước lúc lên đường, Olfat và Pohan không biết được những gì đang chờ đợi mình ở bên kia biên giới. Cũng như trước khi gặp các cậu, tôi không dự đoán được mình sẽ phản ứng như thế nào khi đến thật gần những câu chuyện từ một vùng đất xa xăm như thế. Nếu không mở lòng lắng nghe, ngọn núi định kiến sẽ mãi sừng sững che mờ mắt khiến ta không nhận ra những con người đang cần được giúp đỡ đang ở ngay trước mặt mình.

 

Những chàng trai từ vùng đất trùm khăn

Bởi vì Pohan là một kỹ sư tin học 26 tuổi, lịch thiệp nhã nhặn, tiếng Anh lưu loát, lại đẹp trai nên tôi đã hỏi:

“Mày có bạn bồ chứ?”

“Ở đây điều đó là không thể.”

“Ở quê hương mày thì sao?”

“Ăn mặc như vầy làm sao có bồ.” – Pohan chỉ vào những tấm ảnh google. Tất cả các cô gái đều trùm kín từ đầu đến chân, trừ đôi mắt. Trong các hình chụp trên trang cá nhân, anh luôn mặc một bộ áo dài truyền thống có hai vạt dài đến gối, màu trắng hoặc xám. Trường đại học anh đã tốt nghiệp không có sinh viên nữ. Trong đời mình, Pohan chưa bao giờ đi trên phố cùng với một cô gái, điều không được cho phép ở đất nước anh. Từ khi đến đây, anh chào hỏi bằng cách bắt tay tất cả mọi người, cả nam lẫn nữ. Thỉnh thoảng còn được các cô nhân viên ở trung tâm hôn lên má.

Phản xạ tự nhiên của Pohan khi có một cô gái nói chuyện với mình là phác thảo nhanh chóng một viễn cảnh phát triển thành đôi giữa hai người họ. Và thường mọi chuyện sẽ tắt ngấm đi rất nhanh. Điều đó luôn là không thể. Ở đây, anh không là gì cả, không giấy tờ, không công việc, không có sự kính trọng xã hội. Hiện tại là một sự chờ đợi đơn điệu. Khi chưa được chính phủ Bỉ chấp nhận đơn xin tị nạn, Pohan không thể nghĩ đến chuyện gì khác.

Olfat trẻ hơn, hai mươi hai tuổi, xuất thân từ thôn quê, thật thà, vui vẻ, hay cười. Cậu thích vẽ theo kiểu tả thực và đã vẽ rất nhiều tranh chân dung với bút chì và giấy của trung tâm. Thứ Olfat có nhiều nhất hiện giờ có lẽ là thời gian. Không từng sở hữu nhiều điều để mất ở quê nhà như Pohan, nên ít suy tư hơn, ngoại trừ những đau buồn khi nghĩ về đứa em trai mới mười hai tuổi đã bị phiến quân bắt đi.

Dawood mới mười tám tuổi nhưng đã có ba năm trôi dạt qua nhiều trung tâm cứu trợ và các trại giam vì cư trú bất hợp pháp. Hồn nhiên, rụt rè. Vẻ ngây thơ vẫn không mất đi trên gương mặt không rõ là vui hay buồn đó.

Samsor hai mươi mốt tuổi. Khăn áo màu sắc như một khu rừng nhiệt đới. Vẽ những bức tranh rực rỡ luôn có những quả táo «bởi vì chúng quá dịu ngọt”. Cậu là một nghệ sỹ thực thụ trong mắt các sinh viên lớp tôi, là ngôi sao của cô giáo Thisou, người đã lên ý tưởng và chịu trách nhiệm về chất lượng của dự án này.

Naqif hai mươi tuổi. Rất tự tin “tôi vẽ đẹp lắm đó”, thích bông đùa. Qua những tấm hình, tôi nghĩ ở nhà chắc cậu là một công tử giàu có được cưng chiều.

Đó là một vài trong số những chàng trai đến từ Afghanistan mà tôi đã gặp trong khuôn khổ một dự án chung giữa nhà trường, Trung tâm cứu trợ người vô gia cư Samusocial và Cơ quan liên bang Bỉ về tiếp nhận người tị nạn Fedasil. Một tuần hai lần, hoặc các cậu đến trường chúng tôi hoặc chúng tôi đến trung tâm chỗ các cậu, cùng ăn trưa và sau đó cùng tạo nên những hình ảnh bằng bất cứ kỹ thuật nào chúng tôi có thể nghĩ ra vẽ, nặn tượng, cắt dán giấy, in khắc lên vỏ hộp tráng kim loại … Nhìn bề ngoài, mọi chuyện diễn ra yên ả và vui tươi, bốn tháng hợp tác giao lưu trôi qua tốt đẹp. Song vốn dĩ xưa nay, câu chuyện giữa những con người khác biệt văn hóa chưa bao giờ chỉ toàn màu hồng.

Ban đầu, dự án gặp phải nhiều nghi ngại từ phía sinh viên. Họ có muốn làm việc với chúng tôi? Đó là những thanh niên đến từ một đất nước không có thói quen tôn trọng phụ nữ. Vẽ và nghệ thuật thị giác? Chúng ta đều biết rằng tại các quốc gia hồi giáo, bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy một tác phẩm hội họa hay điêu khắc mô tả con người ở nơi công cộng trong khi mỗi nhà thờ công giáo châu Âu là cả một bảo tàng tranh trượng. Những khác biệt có gốc rễ sâu xa từ ngàn năm. Mặc dù là « người ngoài » nhưng tôi cam đoan rằng mình sẽ khóc nức nở nếu bản sắc châu Âu với tất cả cầu kỳ duy mỹ và nhân văn nó mang trong mình vì một nguyên nhân nào đó bị phai nhạt hay lấn át bởi một nền văn hóa khác. Chúng tôi cảm thấy không an toàn.

Hôm đầu tiên bắt đầu dự án, khi cô sinh viên lớp tôi xuất hiện với quần short và tất da đen như mọi ngày, ông giáo già Xavier đã trêu nửa đùa nửa thật «Camille diện đồ sexy quá nha, coi chừng đó.» «Trời ơi, sao thầy lại nói vậy, nghe sợ quá.» – Một cô khôi hài nửa đùa nửa thật để giảm bớt bầu không khí có phần căng thẳng. Tất cả chúng tôi đều có chung câu hỏi họ sẽ nghĩ gì về đám con gái có vẻ ngoài quá khác biệt với phụ nữ nước họ. Sau đó thì tôi biết được phía bên kia cũng đang thắc mắc tương tự, mấy cô này nghĩ gì về mình.

Pohan bộc bạch trước đây anh thường tự nhủ dân châu Âu còn không xem mình là con người. Nhưng giờ thì anh cảm nhận được sự tôn trọng từ các sinh viên. Dù rằng có thể chúng tôi không thích người tị nạn, nhưng ít nhất khi anh có mặt, giữa mọi người là biểu hiện thân tình. Có lẽ trước đây anh đã gặp phải những người không tốt. Pohan không thích từ « dân tị nạn », một cách gọi dán nhãn. Họ đâu có sinh ra cho điều đó. Trên hết, họ là con người. Trong trường đại học của chúng tôi, các anh được lắng nghe và không bị phán xét.

Một cô trong lớp tôi hỏi Olfat có ngạc nhiên không khi thấy những chiếc váy đôi khi rất ngắn của phụ nữ Bỉ. Cậu nói, lần đầu tiên nhìn thấy nữ giới ăn mặc theo kiểu phương Tây thực ra là ở Thổ Nhĩ Kỳ, trên đường vượt biên. Lúc đó cậu đã nghĩ « Oh, họ đang làm cái gì vậy!» còn bây giờ thì hết ngạc nhiên rồi. Thế cũng tốt mà, giống như việc có cả nam và nữ trong cùng một lớp học, như vậy có thể biết được cách hành xử của các cô gái. Với câu hỏi có phải mẹ cậu làm hết công việc nhà hay không, Olfat cho biết cha cậu nấu ăn rất ngon. Về phần mình, tôi thấy Olfat rất ga lăng.

Có một điều về những anh bạn này mà cảm giác ban đầu của tôi đã hoàn toàn sai. Là tuổi tác của họ. Lúc mới gặp, tôi nghĩ tất cả phải trên ba mươi vì ai cũng mặt mũi nâu sạm, râu ria xồm xoàm. Khi Naqif nói tuổi của mình, tôi đã không khỏi ngạc nhiên « Trời, vậy mà tôi cứ tưởng chú gần bốn mươi rồi». Cậu cười tít mắt «Chúng ta khác nhau. Tụi tôi ăn nhiều nên bự con và già.»

Song khi tôi mở ảnh của Naqif ra đố tuổi với mấy bạn cùng nhà thì K đã đoán gần trúng. Tôi lại một phen nữa ngạc nhiên ủa sao K. lại biết. Bạn trả lời tôi rằng, hãy nhìn vào mắt. Đó là ánh mắt của một cậu bé.

Năm mới exotic 2

Exotic – tôi mới biết chữ này gần đây thôi, đến khi tới Bỉ mới biết. Từ ngữ hay được những người ở đây sử dụng để nói về những vật có nguồn gốc xuất sứ từ một nơi xa xôi, đặc biệt là các loại cỏ hoa, cây cối, động vật … Trong trí nhớ hình ảnh của tôi, từ này gắn liền với những cánh hoa hồi và hạt cà ri bắt gặp được trong một tiệm tạp phẩm châu Á chuyên về đồ khô gia vị. Lần đầu tiên tôi trông thấy chữ exotic là trên bảng hiệu của cửa hàng ấy. Cũng có lúc nó mang dáng hình của những bông sứ trắng, đóa râm bụt hay bụi thiên điểu với cánh hoa vút nhọn và tàu lá xanh óng ánh như trên những tấm ảnh quảng cáo cho các spa hay nơi nghỉ mát. Đó là những minh họa về từ exotic do các cư dân xứ lạnh tạo ra và tôi là người tiếp nhận khi đến sống ở vùng đất của họ. Với những người bản xứ Bỉ và châu Âu, nghĩa phổ biến của exotic đại diện cho một khu vườn nhiệt đới lạ lẫm, sắc thái mang ít nhiều sự khơi gợi về tính chất bí hiểm chưa được khám phá tỏ tường.

Vậy mà khi trông thấy mảnh sân nhà sau gần bốn năm xa cách, cảm giác đầu tiên vỡ ra trong lòng là từ ngữ đó, exotic. Nghĩa là xanh mướt, hình dạng uốn lượn đặc biệt. Có đẹp thật, nhưng trên tất cả là sự xa lạ, cảm giác như vừa đặt chiếc vali xuống một hòn đảo du lịch xa xôi nào đó nằm giữa Thái Bình Dương, chứ không phải là trở về nhà, nơi mình đã sinh ra và trải qua thời thơ ấu.

Thuở nhỏ, nhà tôi bé tí xíu, bao quanh là các khu vườn thật rộng, cả vườn nhà mình lẫn của hàng xóm. Nhà tôi với hai nhà kế bên không có hàng rào ngăn cách. Đó là thiên đường của tôi, những mảnh đất đen nâu xen lẫn lá cỏ, điểm xuyết vài chấm vàng cam hồng tím của hoa trái theo mùa. Trên đó còn có biết bao sinh vật lúc thì lặng lẽ cặm cụi, lúc ồn ào nhiễu sự di chuyển qua lại. Với tôi, những con kiến lửa trên cây khế nhà ông H. cũng quen thuộc như con sâu xanh mướt trên cây lài trâu trước sân nhà mình. Con rắn thẳng đuột một lần tình cờ trông thấy trên thân mãng cầu gai bên chú C. cũng khiêm tốn vô hại như bầy nòng nọc dưới rãnh nước nhà ngoại. Mấy con heo ham ăn của thím T. cũng thân thương như đám gà qué hư thân mất nết cứ làm bậy khắp nơi trên sàn nước sau nhà …

Rồi theo thời gian, những căn nhà to thêm, cao thêm còn cây cối, côn trùng, vật nuôi thời ấy lần lượt biến đi đâu mất. Những mảnh vườn được tỉa tót chăm chút nhiều hơn khi diện tích của chúng thu hẹp lại chỉ còn một góc nhỏ. Vườn mía rậm rạp phía sau nhà đã được thay bằng một khoảng trống chỉ vừa đủ để sắp lên đó những chậu kiểng đất nung san sát nhau. Mảnh sân trước được phủ cỏ mượt mà nhưng mấy cái cây trên đó tôi không biết tên. Sân nhà chú C. bây giờ cũng rất đẹp với những bông súng được trồng trong lu nước. Tôi đồ rằng chẳng có con rắn nào ẩn nấp được ở khu vườn đó. Con trai Thím T. không kế nghiệp nuôi heo của cha mẹ mà chuyển qua chăm sóc một bầy chim kiểng nhốt trong cả chục cái lồng to.

Gọi điện cho cậu bạn cùng về dịp tết thì nó bảo cũng đang cảm thấy hoang mang như tôi. Nhà bạn cũng sửa sang cơi nới nên nhìn lạ hoắc, y chang như đang ở khách sạn. Trong bốn năm chúng tôi ở Bỉ, cảnh vật xung quanh hầu như không thay đổi. Thời gian ở đó chỉ là những vòng lặp nhịp nhàng trên những vòm cây cứ hoa rộ, lá xanh, lá vàng rồi trơ trụi cành khô. Năm tiếp theo, mọi chuyện lại diễn ra hệt như vậy. Cây nào đứng ở đâu thì vẫn nằm im đó. Đường xá, nhà cửa và cả thời trang của những người đi trên phố cũng không thấy khác đi. Cogn ở đây, bốn năm dường như là bốn mươi năm vậy. Tất cả đều lao vùn vụt về phía trước.

Thật là trớ trêu khi ở đó, sự hiện diện của chúng tôi được gọi là exotic. Rồi khi trở về, hình ảnh nơi được gọi là “nhà” đối với mình cũng biến thành exotic nốt.

Nhưng mà, nhớ lại cho cặn kẽ thì tôi đã rời đi lâu lắm rồi, từ cấp ba đã lên tỉnh trọ học, sau đó là những ngày tháng ở Sài Gòn sôi động. Trong suốt khoảng thời gian xa cách ấy, có tâm trí nào dành cho những cái cây, con kiến, con gà, con sâu ở quê nữa đâu, dù thỉnh thoảng có ghé về chốc lát. Những gì lưu giữ trong ký ức là chuyện của tuổi thơ xa lắm. Chuyến bay hôm đó đáp xuống vào ban đêm. Do trời tối và mệt mỏi, hầu như không nhìn thấy phố phường trên chặng đường từ Sài Gòn về đến thị trấn, tâm lý của tôi đã không được chuẩn bị cho những đổi thay vốn diễn ra từng ngày trên mảnh đất này. Vì vậy, khi bắt gặp nó ở nhà mình, bất ngờ càng lớn.

Tết đi loanh quanh chúc tuổi bà con, thấy hóa cũng chưa có ai quên mình, dù nhiều năm chẳng trông thấy tôi được mấy lần. Đối với chòm xóm, tôi vẫn là con bé rụt rè ít nói thỉnh thoảng tha thẩn trong vườn nhà họ, như chưa hề có sự trưởng thành hay những thay đổi diễn ra bên trong nhận thức. Quan trọng nhất là về phần mình, tôi thấy cảnh vật có khác đi nhưng con người ở đây hình như vẫn vậy. Đối với những lưu luyến tuổi thơ của tôi thì đó là điều dễ chịu. Mười ngày sau thì nhà cửa và những khu vườn kiểu mới cũng dần trở nên quen thuộc. Nhưng đó cũng là lúc lại phải ra sân bay nữa rồi.

20170206-WP_20170206_007

Trong lòng tháp nhà thờ Köln

Nhà thờ chính tòa Köln có hai ngọn tháp chuông cao 157m. Du khách có thể trèo lên 509 bậc đá xoắn ốc trong lòng tháp nam để ngắm nhìn phong cảnh sông Rhine từ độ cao 98m. Không rõ tôi đã đến bậc thứ mấy, thử lướt mắt qua ô thông gió, đã thấy mình ở trên hẳn tất cả các mái nhà xung quanh. Góc nhìn và khung cảnh khá tương đồng với các bức minh họa thường gặp của cuốn Nhà thờ Đức bà Paris. Loạt tranh vẽ Quasimodo gục ngã trên cao, xung quanh là những bức tượng ác thú đầu sừng có cánh, chi tiết trang trí đầu máng xối phổ biến của lối kiến trúc gothic, hậu cảnh là thành phố Paris rộng lớn diễm lệ bên dưới, tương phản với vẻ ma quái điêu tàn của các chủ thể chính.

Tôi cũng đang lọt thỏm trong sự đối lập đậm đặc tính gothic đó. Bên ngoài là bầu trời thoáng đãng, con đường phía trước nhà ga tấp nập khách du lịch, vô số thanh niên gái trai xinh đẹp tán gẫu trên những bậc thang rộng thênh tràn nắng. Còn ở chốn này, trong tháp chuông hun hút, cột không khí hầm mộ tỏa ra từ đất đá xù xì của một ngôi nhà thờ có nền móng từ thời trung cổ đang bao bọc tất cả.

Lòng tháp nhỏ hẹp như một ống khói, đường kính ngắn hơn sải tay một người cao ráo. Chiều rộng bậc thang chỉ vừa đủ dể hai dòng khách tham quan lên xuống ngược chiều đặt chân. Tôi đang ở hàng đi lên, nhưng sao không thấy mình đang đến gần bầu trời, mà ngược lại, cảm giác như đi vào địa ngục. Càng ngày vực thẳm dưới chân càng sâu thêm. Khung cảnh giống như trong các giấc mơ dữ từng trải qua, nơi mà nỗi sợ hãi được phóng chiếu thành những hình ảnh rất cụ thể: trượt chân khỏi các nấc thang trên bức tường dựng đứng hoặc bị mắc kẹt trong một nhà tắm nhỏ xíu không thể động cựa được. Ở đây hiện diện cùng lúc cả hai nỗi kinh hoàng đó, sự rơi ngã và không gian bó chật.

Vậy nên tôi đã không đủ dũng khí để leo lên đến tận cùng ngọn tháp. Không ai muốn sống một cơn ác mộng có thực. Tôi chọn dừng lại và quay xuống, ra khỏi tháp ngắm nhìn công trình kiến trúc gần tám trăm năm tuổi từ xa. Ngôi thánh đường đồ sộ như một tòa thành, lãng mạn mà hoang dại. Vẻ lộng lẫy dường như chỉ tồn tại trên những tấm ảnh đã qua bộ lọc và ống kính chuyên nghiệp hơn là dưới ánh sáng đời thực. Mặt tây có diện tích khổng lồ, đen đúa màu khói, bên trên tua tủa vô số những chóp nhọn cạnh răng cưa. Nhìn từ phía này, nhà thờ trông như một vương miện bằng sắt đặt trên mặt đất.

Một người bạn đã từng nói với tôi hồi bé anh rất sợ các tranh tượng của Thiên chúa giáo, chúng thường chảy máu, sầu não hoặc trông dữ tợn. Thầy giáo người Bỉ thì bảo rằng nếu một bức tranh hay một câu chuyện chỉ thuần mô tả những điều êm đềm, nó sẽ trượt đi mà không để lại bất cứ dấu ấn nào trong lòng người. Không rõ đó có phải là phương châm sáng tác đã tồn tại từ xa xưa của các nghệ sỹ phương Tây hay không. Tôi thích những yếu tố fantasy nhưng cũng e ngại những chi tiết rùng rợn của dòng tiểu thuyết gothic, tuy đến nhà thờ hàng tuần nhưng thỉnh thoảng cũng thấy hình ảnh chúa Jesus chịu nạn quả có hơi dễ sợ nếu đặt cạnh tượng phật Thích Ca tọa đài sen.

Cứ cho rằng đó là sự khác biệt về thị hiếu Đông – Tây. Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng, cho dù mình có thích hay không thì sự đau đớn và nỗi sợ hãi vẫn luôn luôn có ở đó, nơi cuộc sống trần gian này. Trong tôn giáo nào đi nữa, siêu thoát hay cứu rỗi luôn đi kèm với trừng phạt và hy sinh.

Trước khi lên tháp chuông, tôi đã mua vé vào thăm phòng châu báu của nhà thờ, thấy trong đó bao nhiêu là gậy, mũ, áo choàng của các giám mục, cùng vô số chén thánh, đồ trang trí tinh xảo … tất cả đều bằng vàng bạc, đá quý. Rất ấn tượng. Nhưng rồi đọng lại nhất trong tâm trí sau chuyến ghé thăm thành Köln vẫn là lòng tháp tù túng. Tôi nghĩ về cảnh ngộ của Quasimodo. Một kẻ giật chuông nếu phải trải qua phần lớn đời mình trong những ngọn tháp như thế này, thì có khác gì lúc nào cũng cận kề địa ngục đâu.

Bóng ma trong nhà hát ở Las Vegas

Cảm giác phù phiếm ở Venezia làm tôi nhớ chuyến đi Vegas hai năm trước đó. Hai thành phố đều là những thiên đường du lịch, nơi nhân loại đổ xô đến để tạm quên con người thường nhật với các bổn phận đủ loại phải mang vác quanh mình. Chốn lý tưởng để bỏ lại phiên bản đại diện chính thức của mình ở nhà, hoặc cất vào túi xách, có khi là giấu trong chiếc đồng hồ vàng, dưới vành mũ hay đằng sau một gọng kính màu mè…  Người ta nhìn thấy ở Venezia sự lãng mạn gợi mở về một vận may tình ái và trông đợi ở Las Vegas vận may của lòng tham. Một bên được xây trên mặt nước, một đằng mọc lên từ sa mạc. Tất cả đều bắt đầu từ ý chí kiêu ngạo điên rồ của con người. Cả hai đều là những bữa tiệc bất tận, là giấc mơ quyến rũ mà ai trong đời cũng ước mơ được một lần chìm đắm.

Nếu Venezia có một mạng lưới các kênh rạch đan khắp thành phố như những mạch máu thì nguồn sống của Vegas là một trận đồ các sòng bài thông nhau như tổ mối. Có thể di chuyển giữa các tòa nhà mà không cần ló mặt ra đường, chỉ cần đi xuyên qua tầng tầng lớp lớp những dãy máy đánh bạc. Giá thuê khách sạn không đắt, thậm chí miễn phí nếu là khách quen chơi bài. Căn phòng tôi ở có một mặt bằng kính, đối diện là bãi đậu xe tám tầng được che đậy bằng tấm panô khổ lớn in hình pháo hoa. Buổi sáng thức dậy kéo rèm ra, cảnh vật trước mắt là một tấm thiệp chào mừng. Welcome to Vegas!

Đường xá rộng thênh thang. Hai bên là đủ loại kiến trúc hỗn tạp, từ Âu đến Mỹ, từ cổ điển đến cách tân. Ban ngày, sự giả mạo trải rộng khắp thành phố.

Tôi tìm thấy một núi lửa ngụy tạo với các cơn chất động phun trào theo thời gian biểu, một tháp Eiffel mô hình và cả một Venezia sao phỏng. Tất nhiên là ở kích cỡ nhỏ hơn vật gốc. Những bản sao này là đồ trang trí lôi kéo sự chú ý của các khách sạn kiêm casino, trung tâm mua sắm kiêm sòng bài hoặc nhà hát có kinh doanh thêm chỗ đánh bạc. Quần thể Venezia giả có tên chính thức là Venetian, nghĩa là người Venezia, thuộc về Venezia. Đây là phức hợp của sòng bạc lớn nhất kết hợp với khách sạn lớn thứ nhì thế giới. Quảng trường Saint Marco và Grand Canal phiên bản nhái cũng dập dìu gondola gọi mời. Có điều, nước dưới kênh lớn tĩnh lặng trong veo, màu sắc xanh lơ một cách khó hiểu như thuốc sát trùng.

Khi đêm xuống, Vegas bừng tỉnh. Vẻ mênh mông của đường phố bị bóng tối che lấp. Bảng hiệu neon chớp nháy nồng nhiệt khắp nơi. Những anh chàng da đen chào mời tờ rơi trên các vỉa hè. Hãy đến với show của chúng tôi. Đủ mọi loại show, vào tất cả các ngày trong tuần; hòa nhạc của các nghệ sỹ tên tuổi; ca múa tạp kỹ cháy nổ hoành tráng với màn phụ họa tưng bừng của dàn vũ công ngực trần; thoát y nam hoặc nữ trong các không gian nhỏ hơn ấm cúng hơn; show thể thao cho những anh chàng mê hành động; nếu bạn có con trẻ, hãy đưa chúng đi xem ảo thuật hoặc xiếc và tất cả, bao gồm chính bạn, sẽ ghi nhớ những ký ức ma thuật đó cả đời …

Giữa muôn trùng lưới nhện các món tiêu khiển mà hệ thống giải trí của Vegas chăng ra, tôi đã nhắm sẵn một lựa chọn từ ban sáng: vở nhạc kịch The phantom of the opera trông thấy trên áp phích bên ngoài tòa nhà Venetian.

Trước đây tôi chưa từng đi xem kịch, dù là kịch nói hay kịch hát. Ở lần chạm ngõ đầu tiên, loại hình sân khấu cộp mác Broadway này đã không mang đến thất vọng. Phần đông khán giả đến nhà hát với lệ bộ khá trịnh trọng, đối lập hẳn với những chộn rộn bên ngoài. Rạp kín mít không còn chỗ trống.

Nhân vật Bóng ma – The phantom – được xây dựng theo mô típ thiên tài bị nguyền rủa. Sinh ra với một khuôn mặt dị dạng, tồn tại trong gánh xiếc như vật mua vui, trốn thoát, rồi sống ẩn dật bên dưới nhà hát opera như một con chuột. Sở hữu tài năng trác tuyệt về kiến trúc và âm nhạc nhưng tâm hồn nhiều tổn thương dần trở nên méo mó thành một bóng ma ghen tuông và cay đắng, cuối cùng nhận lãnh kết thúc bi thảm. Những ngón nghề thiết kế sân khấu được tận dụng tối đa trong phân cảnh Bóng ma đưa người tình vào sào huyệt trên con sông ngầm dưới lòng đất bằng gondola hay lúc chùm đèn khổng lồ trên mái vòm nhà hát đột ngột rơi thẳng xuống hàng ghế khán giả khiến mọi người một phen hú hồn. Âm nhạc, thơ ca, mỹ thuật và kỹ thuật đã kết hợp cùng nhau tạo ra một không gian chuyện kể tuyệt đẹp trong khán phòng.

Tôi biết mình không phải là người duy nhất bị buổi biểu diễn chinh phục. Khi tấm rèm đóng lại, một cô gái đã tiến lại gần sân khấu, đứng lặng hàng chục phút âu yếm ngắm nhìn dàn nhạc bên dưới, mặc dòng người qua lại ra về.

Năm đó ở Las Vegas, đồng nghiệp người Malaysia đi cùng thắng bạc được một trăm đô. Tôi mất một trăm lẻ mấy đồng cho tấm vé xem nhạc kịch. Nhưng cũng nghĩ rằng mình đã thắng.

 IMG_0238

Venezia của Casanova

Tôi nhớ mình đã từng áy náy thế nào vì quyết định cúp cua ba ngày để đi Ý. Lúc ấy năm học ở Bruxelles mới bắt đầu được một tuần, năm đầu tiên của tôi ở một đại học Pháp ngữ.

Sau đó thì nỗi lo âu bài vở đã rơi xuống nước, mất hút trong sóng biển Adriatic, khi chiếc waterbus dập dềnh tiến vào Venezia – một nồi lẩu năm tháng, trong đó khái niệm về thời đại trở nên nhạt nhòa vì các ảnh tượng cũ mới không ngừng trộn lẫn vào nhau. Loại quang cảnh có thể đẩy nhận thức tôi vào một miền miên man hư ảo, tương tự cảm giác mà âm nhạc của Enya mang lại.

Có nhiều thứ đặc biệt có và không có ở Venezia.

Dinh thự bằng cẩm thạch, đường phố tíu xíu, cầu điệu đàng, kênh đỏm dáng, gondola lả lướt, đồ thủy tinh lấp lánh, mặt nạ carnival diêm dúa huyền bí … là những thứ đã làm Venezia vang danh thế giới.

Không có xe hơi, tuyệt nhiên không. Không thấy những công chức hối hả tất bật, những học sinh sinh viên ôm cặp sách nhởn nhơ, những bà mẹ đẩy xe nôi cùng con sưởi nắng, những chợ rau củ thịt cá tươi … Rất nhiều khách du lịch nhưng rất ít các cư dân thật sự.

Không có bầu không khí của những sinh hoạt thường nhật.

Tất cả sự có mặt và vắng bóng đó làm nên đặc tính của một hội chợ, một bữa tiệc, một sân khấu hơn là một thành phố đang còn sống. Đến cả tấm pano quảng cáo cũng không thật, cô nàng trên đó trông như một nữ bá tước nhợt nhạt thời Venezia còn là một quốc gia cộng hòa độc lập chứ không phải một siêu mẫu sống ở thế kỷ hai mươi mốt. Giữa khung cảnh ấy, người ta có quyền mơ mình là một phần của vũ hội hóa trang bất tận, nơi cầm chắc hậu quả là để cho lòng mình đi lạc, tỷ như anh chàng trong bài hát Stupid mistake của Gareth Gates thời còn tóc vuốt múi chôm chôm.

Phim ảnh, clip nhạc lấy bối cảnh Venezia thì nhiều. Danh nhân xứ này phải nhắc đến trước tiên là Marco Polo – nhà thám hiểm đã được lấy tên đặt cho sân bay của thành phố. Nhưng một tính cách Venezia tiêu biểu trong lòng tôi thì nhất định không ai thích hợp hơn Casanova – tay sát gái hào hoa của điện ảnh lẫn truyền hình mà cũng là một tác giả có thật ở Venezia vào thế kỷ mười tám, thời kỳ cực thịnh của quần đảo này. Lúc đó Venezia được xem như thủ đô giải trí của châu Âu, là điểm đến vui vẻ của những quý ông trẻ tuổi, đặc biệt là đàn ông Anh Quốc. Sòng bài, carnival xa hoa và các cô gái giang hồ xinh đẹp là những thứ được cho phép phát triển mạnh mẽ để thu hút du lịch, dù rằng khi ấy chính quyền thành phố vẫn còn rất bảo thủ về chính trị và tôn giáo.

Bây giờ thì các cô gái đến Venezia cũng nhiều như các chàng trai. Venezia vẫn được coi là thành phố của sự lãng mạn, nhưng theo một nghĩa khác với thời đó. Thực tình tôi thấy cũng không khác lắm. Ngày nay, một phụ nữ cũng có thể đóng vai Casanova.

Đêm cuối cùng ở Venezia của tôi trôi qua trên đảo Lido, khu vực diễn ra liên hoan phim Venice hàng năm. Số tiền còn lại gần như cạn sạch cho một bữa tối gồm vang trắng, pizza nấm, cơm hải sản nấu phô mai và vẹm hấp rượu trong một nhà hàng ngoài trời. Không khí biển gần kề cùng những tàng cây lá kim cứng cáp duyên dáng đã lấn áp sự quấy nhiễu khó chịu của bọn muỗi ẩn nấp trong các chậu ôliu chờ đêm xuống mới chui ra săn người. Khung cảnh trở nên hoàn hảo khi có tiếng guitar mạnh mẽ quyến rũ cất lên bên vòm cổng uốn bằng những thân leo. “Chẳng có lý do nào đến với tôi. Và cơn mưa đang trút xuống. Không có lý do nào …” Bài ‘74 – ’75 của The Connels đây mà. Bản cover hay nhất tôi từng được nghe. Hoặc giả tất cả chỉ là hiệu ứng do mấy ly rượu trắng mang lại. May mà trong túi còn một đồng hai euro để thả vào chiếc nón của chàng ca sỹ. Vâng, chẳng có lý do nào. Vì bạn đang ở Venezia của Casanova.

 Nhân chuyến đi Venezia tháng 9 – 2014.